Chương
28
Chiến
sự nhìn từ phía Đông Hà
John Ripley vẫn
chưa biết gì về sự tan nát của căn cứ
Camp Carroll. Gerry Turley đã cố ý giấu cái tin này trong lúc
Ripley còn đang dưới chiếc cầu. Turley đã đoán
đúng là Ripley cần phải tập trung vào Đông Hà.
Nếu anh nghe được là phe ta đã bị thất
bại ở đâu đó thì có thể sẽ bị mất
tinh thần và không cố gắng như anh đã làm
nữa.
Vì những lý do
hiển nhiên, tình hình chiến sự trong khu vực tiếp
giáp với cầu Đông Hà, hay những gì còn lại
của cây cầu, dường như lắng đọng
lại. Tình trạng khác thường này còn được
biểu lộ rõ hơn chỉ giây lát sau khi cây cầu
đã bị phá hủy và Dzắc đã chăm sóc cho Ripley
mau hồi phục xong: hai chiếc phi cơ T-28 Trojan
của Không quân Việt Nam bay vào chiến trường.
Trong Không lực Hoa Kỳ, T-28 chỉ được
sử dụng đặc biệt trong công tác huấn
luyện các phi công. Không quân Việt Nam thì sử dụng nó
cho cả huấn luyện và chiến đấu. Binh sĩ
TQLC của Bình rất hoan hỉ khi thấy có Không quân
yểm trợ, mặc dù khá muộn màng.
Quang cảnh
nhắc lại cho Ripley cái màn trước khi bò xuống
dưới cầu, anh và những người khác đã
chứng kiến, tựa như khán giả của một
trận đấu thể thao, lúc Hạ sĩ Lượm
lờn vờn và bắn hạ được chiếc T-54
đầu tiên. Điểm khác biệt là giờ đây tất cả mọi
người đều đang theo dõi. Cả hai bên bờ dòng
sông, nhưng đặc biệt là phía phe ta, tất cả
các binh sĩ đều đứng lên khỏi các hầm cá
nhân chỉ trỏ và reo hò (dĩ nhiên là bọn Bắc
Việt đời nào reo hò). Chiếc T-28 dẫn
đầu nhào xuống các mục tiêu mà các TQLC không thấy
được vì nằm đàng sau rặng cây phía Bắc
dòng sông. Ripley phỏng đoán đó là những mục tiêu,
chiến xa hay các xe cộ phía sau Quốc lộ 1 đang
đậu lại chờ đến phiên vượt qua
chiếc cầu giờ đây không còn nữa.
Như mọi
người có thể dự đoán, chiếc T-28
đầu tiên làm vài "pass"
ở cao độ thấp khá ngoạn mục, vừa
bắn phá vừa thả bom vào các mục tiêu địch.
Các binh sĩ TQLC của Bình hoan hô nhiệt liệt giống
như lúc hoan nghênh Ripley khi anh vừa giật nổ cây cầu.
Mọi người cảm thấy hoan hỉ, rất hoan
hỉ đã trả đũa được kẻ thù
phần nào.
Những hành
động của lính Sói Biển khiến Ripley nhớ
lại thời gian tương tự khi anh còn ở
với Đại đội Lima vào năm 1967. Các TQLC
của anh, nhóm Raiders đã từng có lúc quên hết tất
cả mọi ưu tiên về chiến thuật, đôi khi
ngay cả trong lúc đang đụng độ nặng
với quân Bắc Việt, khi được không yểm
ở ngay sát một bên ‒ đặc biệt là các
chiếc A-1 Skyraider trên nhiều mặt khá giống
chiếc T-28, chỉ có điều là to hơn, khoẻ
hơn, chở được nhiều bom đạn
hơn và có thể ở chiến trường một
thời gian tưởng chừng như bất tận
‒ xuất hiện giống như đội kỵ binh
cứu viện mang lại thắng lợi cho cái ngày hôm
đó. Ripley còn nhớ là anh, tay Thượng sĩ
Đại đội, các Trung đội trưởng cùng
với các Trung sĩ Trung đội và các Tiểu
đội trưởng gần như là phải gõ vỡ
đầu các binh lính lúc đó nhảy cỡn ra khỏi các
vị trí phòng thủ vừa vẫy tay vừa reo hò, la hét
ỏm tỏi và hành động giống như đang reo
hò cổ vũ một trận bóng bầu dục trung
học hơn là đang ở giữa một trận
đụng độ sinh tử trong khu rừng rậm
hoang vu ở phía Bắc miền Nam Việt Nam.
Sau khi chiếc
thứ nhất hoàn tất đợt bắn phá,
đến chiếc thứ hai mà Ripley gọi là "Dash
2" bắt đầu nhào xuống, tương
đối chậm rãi và như dự đoán, tấn công
một vài mục tiêu nào đó ở đàng xa bên kia dòng
sông. Sau khi chiếc này rải bom xong và bắt đầu
bay vọt lên với ý định quay vòng lại làm thêm
một đợt nữa thì các TQLC sửng sốt khi
nhận thấy một chuyện mà họ chưa từng
thấy bao giờ.
Trong một
thoáng chớp mắt, họ nghe một tiếng "xì"
và trông thấy một luồng khói nhỏ bay thẳng lên
rượt theo chiếc T-28 đang cố gắng lấy
cao độ. Một tiếng "bụp" trầm khá
rõ và luồng khói bay chạm chiếc phi cơ rồi
đột nhiên chiếc T-28 biến thành một trái cầu
lửa màu da cam ở ngay gần họ.
John Ripley
sửng sốt trước cường độ của
tiếng nổ. Chiếc máy bay hẳn vẫn còn chứa
khá nhiều bom đạn. Điều anh không ngờ sau
đó là trong chớp nhoáng có một cánh dù bung ra. Làm sao mà tay
phi công sống sót nổi nằm ngoài sức tưởng
tượng của anh. Ban đầu thoát chết
được như vậy thật là một phép lạ,
ít nhất là trong lúc này. Chiếc dù bềnh bồng dữ
dội chứng tỏ cho Ripley thấy, do bản thân anh
cũng đã từng nhẩy cả chục lần trong
những ngày còn phục vụ trong Lực Lượng Trinh
Sát và TQLC Hoàng Gia Anh, là tay phi công gan dạ nhưng giờ
đây vô phúc này chắc là mới nhẩy dù ngoài mặt
trận lần đầu tiên và không biết cách
điều khiển dù hạ xuống. Cơn gió dịu
thổi lên hướng Bắc từ từ mang anh ra xa
về phía bên kia dòng sông. Phải chi anh ta biết cách
"tuột" và "thả hơi" như các tay
nhẩy dù cơ bản nào cũng được dạy
thì hay biết mấy. Bây giờ thì quá muộn để
học rồi.
Niềm vui
chiến thắng tạm thời bị đứt
đoạn trong tiếng xì xầm nhận xét là viên phi công
và chiếc dù được xem như là đã rơi
lộn vào phía bên kia dòng sông và chắc đã bị bắt
làm tù binh rồi. Sau phút tạm nghỉ quá ngắn, các binh
sĩ Sói Biển lặng lẽ và nghiêm trang trở về
các vị trí chiến đấu.
Ngay cả sau khi
Ripley đã giật sập được cây cầu, Bình
vẫn không mất cảnh giác hay nghỉ ngơi chút nào.
Hai tay cầm hai cái máy điện thoại, mỗi tay
một chiếc, anh vừa nói chuyện với Đại
tá Định trong Trung Tâm Hành Quân vừa điều
động các Đại đội trưởng. Khi
tập trung trí óc nói chuyện với Lữ đoàn
trưởng, anh báo cáo tình hình, xin thêm hỏa lực
yểm trợ và yêu cầu di tản thương binh
cũng như tiếp vận. (Nhờ có sự phối
hợp với Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp nên nỗ
lực tiếp tế tại Đông Hà có nhiều ưu
tiên hơn là nếu chỉ có Tiểu đoàn TQLC mà thôi). Khi
điều động các Đại đội
trưởng thì anh muốn biết chắc là binh sĩ các
Đại đội đã có hầm phòng thủ chặt
chẽ, được tiếp tế đạn
dược đầy đủ và chỉ di tản
những binh sĩ bị thương nặng nhất mà
thôi. Họ còn phải chuẩn bị cho những trận
tấn công không thể tránh khỏi mà bọn Bắc
Việt chắc chắn sẽ tung ra.
Ngay lúc này,
cả Bình và Ripley đều dự phòng là địch
sẽ vẫn tìm cách vượt sông tại Đông Hà. Trên
thượng nguồn cây cầu khoảng vài trăm
thước về hướng Tây có một cái cù lao
nhỏ nằm hơi lệch một bên ở giữa giòng.
Thực tế đó là một cồn cát hình bầu dục
nổi lên giữa sông rộng khoảng một hai mẫu,
cây cối khá rậm rạp và trong đó có vài cây khá cao.
Nếu đứng quan sát từ bờ phía Nam nhìn qua phía
Bắc bên kia sông Cửa Việt ngay gần chỗ có cái cù
lao thì rất khó nhận ra những gì xẩy ra trên đó.
Vị trí này có thể rất cần phải bảo vệ
trong trường hợp địch cố gắng trong
bóng đêm đưa quân lên đó trước rồi
mới vượt qua bờ phía Nam. Do đó Bình bố trí
Đại đội 3 từ vị trí trừ bị dàn
hàng ngang lên chỗ đó.
Hoạt
động trong Trung Tâm Hành Quân Ái Tử lúc này vẫn
như điên cuồng, giống như phải theo dõi các
trận khác nhau không dứt của một giải
đấu võ trong đó các đấu thủ loạn
đả với nhau chí chết. Với sự tan rã
của Camp Carroll đã bớt đi một tình huống
phải theo dõi nhưng những đụng độ
với địch tại từng điểm riêng biệt
còn lại càng lúc càng mãnh liệt hơn. Chiến sự
tại căn cứ hỏa lực Mai Lộc nơi có
Thiếu tá Jim Joy cùng bộ nhân sự cố vấn và các
đơn vị còn lại của Lữ đoàn 147 TQLC
Việt Nam còn đang cầm cự chống lại,
giống như mọi chỗ khác, các xác xuất thất
lợi khủng khiếp càng lúc càng tăng dần. Binh
sĩ TQLC thực sự đã cạn đạn
dược mặc dù đã có những cố gắng phi
thường để tiếp tế lại. Tình thế
đã đến lúc phải quyết định tử
thủ hay chiến đấu phá vòng vây với các lực lượng
có sẵn và lên kế hoạch tái phối trí lại phía sau
nhằm phản công trong những điều kiện
thuận lợi hơn.
Thời tiết khá dần đã
khiến cho không yểm của Hoa Kỳ rốt cuộc
bắt đầu trở thành một yếu tố
thiết yếu cho chiến trường. Tuy nhiên những
khó khăn và căng thẳng khi điều động
tất cả hỏa lực Không quân đã thêm vào gánh
nặng cho các nhân sự đã bị trải mỏng ra
của Trung Tâm Hành Quân. Phe đồng minh sẽ sớm
nhận ra toàn bộ các phương tiện vũ khí phòng
không mà bọn Bắc Việt đang có ngoài những cái SA-7
mà chúng đã sử dụng trước kia.
Trung tá Camper,
trong lần được trực thăng bốc đi ra
khỏi Camp Carroll một vài giờ trước đó,
đã sáng suốt gọi Trung Tâm Hành Quân để nói
chuyện với Thiếu tá Brookbank. Ông khuyến cáo là
một cuộc không tập trả đũa cần
được tiến hành đối với cái vị trí
đã di tản vì 22 khẩu trọng pháo bỏ lại
chưa bị phá nòng. (Động tác "phá nòng" {spike} một khẩu trọng
pháo là một chuyện mà tất cả các pháo thủ
đều được học qua. Thường thì
hiếm khi nào họ phải làm chuyện này. Nhưng trong
trường hợp sắp bị thất trận,
phải đầu hàng, hay một đơn vị sắp
bị tràn ngập, nhằm mục đích để
địch không thể sử dụng các vũ khí bắt
được này vào một chuyện khác hơn là giữ
làm chiến lợi phẩm hay làm một cục chặn
giấy khổng lồ, thì theo thủ tục là phải phá
hủy khẩu trọng pháo đó đi. Cách làm là đóng
cơ bẩm lại và thả một quả lựu
đạn lân tinh vào trong nòng súng. Sức nóng phát ra sẽ
làm chảy thép và hàn dính cơ bẩm và nòng súng lại
với nhau. Khẩu súng sẽ trở nên hoàn toàn vô
dụng). Và trong thời gian chờ đợi câu trả
lời, căn cứ hỏa lực chắc sẽ nhung nhúc
bọn lính địch. Một trận không kích chung quanh
Camp Carroll sẽ là một nỗ lực đáng kể
đầu tiên trong ngày.
Sau gần
bốn ngày tổng tấn công tại tỉnh Quảng
Trị từ cả hai mặt phía Bắc và phía Tây,
những trận đánh lớn mà MACV dự đoán sẽ
xẩy ra tại miền Trung và miền Nam của
đất nước vẫn chưa thành hình. Các trung
đoàn cấu tạo nên Sư đoàn 3 đã hoàn toàn không
làm tròn nhiệm vụ. Trung đoàn 57 đã rút chạy ra
khỏi Đông Hà, Trung đoàn 56 thì đầu hàng tại
Camp Carroll và Trung đoàn 2 thì chỉ còn là một tập
hợp mờ nhạt và bối rối quanh quẩn chung
quanh Cam Lộ. Một trong ba tiểu đoàn của Trung
đoàn 2 đã mất tăm mất tích. Tại Camp Carroll,
người ta tin là quân Bắc Việt đã tịch thu
được hầu hết hay tất cả 22 khẩu
trọng pháo đặt tại đó vẫn còn nguyên
vẹn. Ngoại trừ hoạt động của hai
Lữ đoàn TQLC Việt Nam, lực lượng
đồng minh trên căn bản đã bị địch
quét sạch ra khỏi chiến trường tại
tỉnh Quảng Trị.
Sự đột phá quan trọng đầu tiên với việc đóng lại Quốc lộ 1 bằng cách phá hủy cây cầu Đông Hà có nghĩa là Bắc Việt phải chuyển nỗ lực tấn công qua phía cầu Cam Lộ. Hải pháo sẽ tiếp tục được sử dụng chống lại các lực lượng đó trong phạm vi tầm bắn của các chiến hạm. Joel Eisenstein và các nhân sự trong nhóm ANGLICO tại Trung Tâm Hành Quân cứ phải nhắc nhở Gerry Turley là các chỉ huy trưởng trên các chiến hạm đã vi phạm tất cả các qui định theo sách vở. Họ cho chiến hạm đến sát bờ tới mức tối đa và bất tuân qui tắc "đường cong năm trượng" (five-fathom curve) (Các thuyền bè cần phải có một độ sâu nào đó dưới lườn tàu để có thể hoạt động an toàn. Nếu di chuyển trong những vùng biển được đánh giá là quá nông thì có thể bị hư hại thân tàu và nhất là các mái vòm sonar đặt phía mũi tàu). Các chiến hạm trưởng đã cố gắng tận dụng từng tấc một cho tầm bắn của hải pháo nhằm tưới lửa xuống đầu địch. Thật may cho Hải quân Hoa Kỳ và cho các đơn vị dựa vào sự hỗ trợ của họ là địch không có khả năng sử dụng tầu ngầm gần đó.
Đại tá
Định Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 258
TQLC Việt Nam và viên Trung tá cố vấn Gerry Turley cũng
phải tìm cách ngăn chận không cho địch sử
dụng cầu Cam Lộ. Do Turley bị gọi về trình
diện tại phía Nam vào sáng hôm sau, người thay anh
để tiếp tục nhiệm vụ trong lúc anh ở
Sài Gòn sẽ là Thiếu tá Jon Easley, viên TQLC Hoa Kỳ cao
cấp còn lại tại Trung Tâm Hành Quân. (Thiếu tá Easley
thực ra là cố vấn trưởng Lữ đoàn cho
Đại tá Định và Lữ đoàn 258). Tuy nhiên cho
tới lúc anh đi, Turley vẫn còn chịu trách nhiệm.
Giống như mọi người khác, anh không
được ngủ nghê hay ăn uống đàng hoàng
một bữa nào cả. Và Turley vẫn còn phải chịu
đựng cơn tháo dạ đang tiếp tục hành
hạ anh. Nhưng ít nhất anh có thể trông mong vào
việc mang toàn bộ hỏa lực Không quân để
dập tụi Bắc Việt. Với bao nhiêu là trang
thiết bị và thực tế có hàng chục ngàn quân
tập trung lộ liễu, phía Bắc tỉnh Quảng
Trị hiện là một môi trường đầy nhóc
mục tiêu mà Turley chưa từng thấy bao giờ. Đã
đến thời điểm trả đũa và còn 12
tiếng đồng hồ hay hơn nữa trước
khi phải rời vị trí, anh vẫn còn nhiều cơ
hội để thực hiện điều này.
LỮ ĐOÀN 369 LÊN PHÍA
BẮC
Lữ đoàn
369 được lệnh điều động ra phía
Bắc. Trong các đơn vị đi kèm theo có tất
cả các TQLC của Tiểu đoàn 1 Pháo Binh, đơn
vị mà Đại úy George Philip được bổ
nhiệm làm cố vấn. Với sự tăng
cường của lữ đoàn cuối cùng này, toàn
bộ binh chủng TQLC Việt Nam với tất cả các
tiểu đoàn tác chiến và toàn thể các đơn
vị hỗ trợ then chốt coi như là đã
được tung vào trận đánh tại tỉnh
Quảng Trị.
Đường
bay tại Tân Sơn Nhứt chật cứng từng
đoàn C-130 của Không lực Hoa Kỳ nối đuôi
nhau. Philip chưa bao giờ thấy quá nhiều chiếc
Hercules tụ họp tại một chỗ như vậy
cả. Thật là một trường hợp lạ
thường đối với George Philip vì anh mới
rời Việt Nam nhân một kỳ nghỉ ngơi &
dưỡng sức (R&R) trước khi cuộc tổng
tấn công được khởi sự và mới trở
lại từ Hawaii chỉ một tiếng đồng
hồ trước đó thì đã phải nhập vào
một trận chiến hoàn toàn mới rồi.
Có một
chục chiếc phi cơ, động cơ còn đang
nổ và bửng phía sau hạ xuống, các đơn
vị tiền phương của Lữ đoàn 369 đã
được đưa lên phi cơ xong xuôi. Những
chuyến bay lên phía Bắc, tới phi trường Phú Bài,
đều chật cứng binh lính và trang thiết bị;
tất cả những thứ mà các TQLC Việt Nam cần
đến để chiến đấu và tiêu diệt
kẻ thù nhưng ngoại trừ lần này là họ
để lại những con heo và gà vịt. Ít nhất là
trong lúc này.
Bat-21...
Bị bắn rơi
Tỉnh
Quảng Trị
Ngày
2 tháng 4, 1972. 4 giờ 50 chiều
Tất cả
các sĩ quan TQLC Việt Nam phục vụ tại Trung Tâm
Hành Quân Ái Tử đều đã từng chiến
đấu trong kỳ Tết Mậu Thân 1968, cũng như
trong tất cả các trận đánh lớn mà bất
cứ ai cũng có thể nhớ lại được.
Cuộc chiến tranh qui ước mà người Mỹ
đã mơ ước từ lâu và đạt
được trong lần Tết 1968 là cơ hội
để tiêu diệt kẻ thù thật nhiều bằng
các phương tiện cổ điển của
phương Tây cộng thêm với kỹ thuật phong phú
và chính xác của Hoa Kỳ. Và họ đã làm
được điều đó. Mặc dù sau đó thì
trận đánh cũng bị giới thông tin báo chí và các môi
trường đại học tại Hoa Kỳ bỏ quên
đi, nhưng trên thực tế tại Việt Nam, các
đường phố và nhà cửa tại các thành phố
và tỉnh lỵ, các đường mòn và ruộng lúa
đã bị nhuộm đỏ máu quân Cộng sản vì có
quá nhiều mục tiêu bị tiêu diệt. Đặc
biệt đối với các sĩ quan và binh sĩ VNCH
dầy dạn kinh nghiệm thì họ hết sức hài lòng
đã diệt được nhiều tên quỷ đỏ
như vậy vào năm 1968.
Mặc dù tình
thế có vẻ khá xấu và thành tích của ba trung đoàn
thuộc Sư đoàn 3 VNCH quá kém cỏi nhưng vẫn có
sự lạc quan trong lần xâm lăng này của
địch quân. Chiến trường tại phía Bắc
tỉnh Quảng Trị giờ đây đang thành hình
giống như hồi Tết 1968, và có lẽ trên một
qui mô rộng lớn hơn. Trên thực tế, từ
trước tới giờ, qua kinh nghiệm của bất
kỳ người nào hiện có mặt, dù là Việt hay
Mỹ, chưa khi nào trước mặt họ có nhiều
quân địch và hỏa lực như vậy. Mọi
chuyện đã lộ hình ra rõ ràng. Thời tiết đang
dần dần khá hơn từng chút một. Turley và toán
của anh đang chờ hỏa lực Không quân bắt
đầu một cuộc "săn gà rừng"
khởi sự bằng tiếng hô "đánh kẻng báo
động và thả chó ra" chống lại những
đoàn quân đông đảo của tướng Giáp.
Đoàn phi cơ
của Không lực Hoa Kỳ được tập họp
để mở cuộc không kích ARCLIGHT đầu tiên
đã vào đội hình sau khi Ripley phá hủy được
cây cầu Đông Hà, tuy
nhỏ nhưng cũng gây được ấn
tượng khá mạnh. Nhằm mục đích tấn công
các mục tiêu chung quanh Camp Carroll, một toán ba chiếc B-52
(biệt hiệu Copper 1, 2, và 3) được một
số chiến đấu cơ khác yểm trợ
để chống lại một loạt sự đe
dọa chưa xác định được của
địch. Các kế hoạch gia của công tác đã phân
công hai chiếc F-4 Phantom (biệt hiệu Cain 1 và 2)
để nghinh chiến với các Mig nếu có; hai
chiếc F-105 (biệt hiệu Coy 1 và 2) trang bị hỏa
tiễn chống các hệ thống ra-đa và vị trí
hỏa tiễn địa-đối-không SAM; và hai
chiếc EB-66 (biệt hiệu Bat 21 và 22. Bat 21 là một
chiếc EB-66C còn Bat 22 là EB-66E) để hỗ trợ
bằng cách sử dụng các phương tiện
điện tử gây nhiễu (electronic counter measures ECM)
chống lại các hỏa tiễn SAM bắn lên nhắm vào
không lực Hoa Kỳ.
Tuy nhiên chiếc
EB-66C với biệt hiệu Bat 21 đã bị bắn
rơi vào khoảng 4 giờ 50 chiều, giờ địa
phương. Nó bị trúng bởi một trong nhiều trái
hỏa tiễn SAM-2 bắn vào toàn bộ nhóm phi cơ tham
dự cuộc không kích ARCLIGHT. Các hỏa tiễn SAM-2
được chở trên những dàn phóng di động mà
bọn Bắc Việt đã mang vào mặt trận. Trong
nhóm chín chiếc máy bay có liên quan đến đặc
vụ này chỉ có chiếc Bat 21 bị rơi bởi
hỏa lực địch. Trong nhóm phi hành đoàn sáu
người của Bat 21 ‒ một phi công, một phi
công phụ và bốn sĩ quan phụ trách chiến tranh
điện tử (Electronic Warfare Officers EWO) ‒ chỉ có
một người sống sót.
Trung tá Iceal
Hambleton, ở lứa tuổi khá già 53, là hoa tiêu
trưởng của phi đội và ông đã ngồi vào
vị trí của một EWO. Ông là người duy nhất
xoay sở được để được bắn
ra khỏi chiếc Bat 21 và khi chiếc dù của ông đáp
xuống đất liền cách cây cầu Cam Lộ vào
khoảng hai cây số về hướng Đông Bắc thì
có lẽ ông là một chiến sĩ già nhất của phe
Đồng minh. Quang cảnh từ trên cao nhìn xuống
thế giới bên dưới, khi Hambleton đang từ
từ đáp cánh dù xuống phía địch của sông
Cửa Việt, chắc khiến ông cảm thấy may
mắn đã thoát chết khỏi chiếc phi cơ bị
nổ tung. Tuy nhiên chỗ ông sắp đáp xuống lại
ngay chóc ở giữa chỗ có vẻ như có hàng ngàn và
hàng ngàn quân địch đang tiến lên.
Khi chiếc dù
của Hambleton còn đang tiếp tục rơi (từ
độ cao bắn ra khỏi phi cơ phải mất vài
phút đồng hồ thì dù mới đáp được
xuống đất) thì các máy bay Không quân khác gần đó
đã theo dõi ông và theo đúng thủ tục căn bản
đã ấn định trước, họ lập tức
tiến hành nỗ lực "Tìm kiếm và Cấp
cứu" (Search and Rescue). Sự hiện diện của
Hambleton ngay sát cạnh cầu Cam Lộ đã làm thay
đổi cục diện và gây ra khó khăn cho với công
tác yểm trợ hỏa lực cho các lực lượng
VNCH đang chịu áp lực địch khắp vùng
Đông Bắc của tỉnh Quảng Trị.
DI TẢN THƯƠNG
BINH, TÌM KIẾM & CẤP CỨU
Ý thức và
sự cam kết của người Mỹ về những
điều tốt đẹp căn bản nhất,
về lòng trung thành và tinh thần mã thượng chưa bao
giờ được thể hiện rõ hơn là trong
thời chiến, đặc biệt là trong thời
đại mới, bằng các phương tiện dồi
dào bỏ ra chỉ riêng để tìm kiếm và cấp
cứu các phi hành đoàn bị bắn rơi, hoặc các
nỗ lực để di tản hay tăng viện cho các
đơn vị đang bị nguy khốn sắp bị
tràn ngập, hay đơn giản hơn là các nghĩa
cử hằng ngày của những nhân sự có liên quan
đến tất cả các mặt về di tản thương
binh và sử dụng trực thăng cứu cấp.
Quan niệm
của Hoa Kỳ khi coi trọng nhân mạng, đi cùng
với việc cứu cấp các đồng đội
bị ngã gục, là một phần của nền văn
hóa Mỹ quan trọng không kém các giá trị khác. Lòng
nhiệt tình để cứu các thương binh và không
bỏ rơi lại đàng sau bất kỳ một ai
‒ trong hầu hết các trường hợp ‒
cũng là một phần trong di sản tinh thần của
đất nước. Khi người Mỹ ra trận,
họ mang theo toàn bộ một hạ tầng cơ sở
để lo cho các thương binh. Họ đã đầu
tư các nguồn phương tiện khổng lồ
nhằm điều trị cấp kỳ các thương
binh hầu bảo đảm cho họ khả năng
sống sót cao nhất.
Các binh sĩ
lặn lội trong rừng già và ruộng lúa Việt Nam hoàn
toàn tin tưởng là nếu họ có bị trúng
thương và cần trực thăng di tản, sẽ có
những người dũng cảm mà họ không hề
quen biết dời núi chuyển non và xông pha quên mình
để cứu họ ra khỏi chốn hiểm nguy.
Sự hiện diện gần như thường trực
của các trực thăng trên khắp bốn vùng chiến
thuật tại Việt Nam đã bảo đảm là
nếu một chiếc trực thăng nào đó không
sẵn sàng thì luôn luôn có những chiếc khác gần đó
bay tới yểm trợ. Đoàn "Kỵ binh," hay
"Phe ta," hay "Những chiếc nón trắng,"
hay bất cứ tên gọi nào khác, dường như là lúc
nào cũng có mặt ‒ ở trên cao ‒ để bay
xuống hớt và cố gắng cứu phe bạn bất
chấp các hậu quả nguy hiểm.
Đối
với các phi vụ chuyên biệt để cứu vớt
các phi hành đoàn bị bắn rơi cũng như các công
tác đặc biệt hoạt động đàng sau
tuyến địch, rất cần có cả một mức
độ cao về sức mạnh tác chiến mà chỉ có
các quốc gia có phương tiện gần như là vô
giới hạn mới có thể mang vào chiến
trường được.
CÔNG TÁC DI TẢN
THƯƠNG BINH VỀ PHÍA VNCH
Về phía Việt Nam thì công tác di tản
thương binh là một vấn đề khác. Các
đơn vị trưởng QLVNCH và TQLC Việt Nam
thường bị bắt buộc phải có những
quyết định sinh tử đối với thuộc
hạ, nó vượt xa những gì các đồng nghiệp
người Mỹ làm. Chỉ duy nhất là một công
việc được trích ra từ những nguồn
lực sẵn có, hay đôi khi không có, vấn đề tản thương, nói chung, cho
các binh lính VNCH hay TQLC Việt Nam thực sự không giúp
mấy cho sự sống còn của các binh sĩ nếu
chẳng may họ bị trọng thương ngoài mặt
trận.
John Ripley, trong
vai trò cố vấn cho Tiểu đoàn 3 và đã chung
lưng chịu đựng tất cả những gì mà các
binh sĩ Sói Biển đã trải qua trong những tháng
ngoài chiến trường với họ, đã chứng
kiến những sự việc mà đồng hương
của anh tại Hoa Kỳ, ngay cả những
người đã từng chiến đấu nhưng riêng
rẽ với bạn đồng minh tại Việt Nam,
cũng không thể nào hiểu nổi, huống chi là thông
cảm với họ. Đồng thời với nhịp
độ chiến sự tăng dần trong cuộc công
kích "Nguyễn Huệ," Ripley thấu hiểu thêm
sự cứng rắn về mặt tinh thần và cảm
xúc của những người như Bình phải chứng
tỏ cho mọi người thấy khi họ sử
dụng các nguồn lực hạn chế ngoài mặt
trận trong nỗ lực chiến thắng một kẻ
thù dai như đỉa.
Ăn sâu trong tâm
khảm của người Mỹ là cái quan niệm
phải có một công tác y tế thích ứng và phải nhanh
chóng di tản ngay mỗi khi binh sĩ bị thương.
Họ không thể nào tưởng tượng ra nổi một
cách nào khác hơn. Vậy mà đối với binh lính
Việt Nam hay TQLC bị trọng thương trong lúc
đụng độ nặng tới mức mà họ không
thể nào di chuyển được nữa và phe họ,
ít nhất là trong lúc này, đang bị thất thế thì
sự chọn lựa rất là hạn chế. Có lẽ
chỉ có bọn Việt Cộng hay bọn Bắc Việt
với các phương tiện nghèo nàn không kém mới
hiểu nổi các quyết định đau lòng của
các đơn vị trưởng VNCH thường bị
bắt buộc phải bỏ lại thuộc hạ phía
sau.
Phương cách
đối phó với tình huống phải để
lại binh sĩ phía sau khá căn bản. Ripley đã
từng thấy một vài lần như vậy từ lúc
khởi đầu cuộc công kích. Không may là anh lại
phải chứng kiến nhiều lần nữa
trước khi trận công kích chấm dứt. Binh sĩ
VNCH so với các đồng đội Hoa kỳ có rất
ít trực thăng cho riêng họ. Thường thì những
chiếc này được sử dụng trước tiên
cho mục đích chỉ huy và kiểm soát hay làm
phương tiện cho vũ khí tấn công. Các nhiệm vụ
di tản thương binh được xếp ưu tiên
sau các mục đích kể trên về tầm quan trọng.
Bởi vì những chiếc trực thăng quá quí giá
để mà phí phạm như vậy. Do đó các cố
vấn Hoa Kỳ, nếu biết có những trực
thăng Hoa Kỳ gần đó, thường gọi họ
đến để giúp di tản thương binh bạn.
Tuy nhiên đến đầu năm 1972, với công
cuộc triệt thoái lính Mỹ và Việt Nam hóa chiến
tranh, thì phương tiện này cũng giảm đi
một cách nhanh chóng.
Khi một
vị trí cần thiết phải bỏ lại thì các binh
sĩ, nếu xét không thể mang theo, sẽ được
nhận dạng và khiêng qua một bên. Mặc dù đây có
lẽ không phải là một thông lệ được
viết thành văn bản nhưng Ripley có thể đã
đoán đúng là hành động này cũng được
tiến hành nơi các đơn vị VNCH khác khi lâm vào tình
trạng quá xấu. Nghi thức mà anh chứng kiến
rất trang nghiêm, trân trọng và có phần nào dịu dàng
theo cách riêng của nó. Người thương binh
được đặt ở tư thế thoải mái
nhất có thể được. Thường thì có
một dạng lễ nghi tiễn biệt cuối cùng
giữa các đồng đội với nhau. Thẻ
căn cước và các giấy tờ quan trọng, thư từ
và hình ảnh, mà họ luôn luôn bỏ trong túi áo trái, giờ
được lấy đi nhằm trao lại cho
người thân sau này.
Đối
với Ripley là một người phương Tây, anh có
sự nhận xét lạ lùng là các thương binh
được phân chia theo tôn giáo của họ, tức
Phật giáo hay Công giáo. Mỗi người được
trao cho một quả lựu đạn. Phật tử thì
được trao lựu đạn còn chốt an toàn
(đã được vuốt cho thẳng để rút ra
dễ hơn vì thương binh có thể quá yếu không rút
nổi một cái chốt bình thường), do đó họ
có sự chọn lựa là một lúc nào đó có thể
tự lấy đi mạng sống của mình chứ không
để rơi vào tay bọn Bắc Việt trước
sau gì cũng tra tấn và giết họ.
Với những
binh sĩ là Công giáo thì hành động tự sát
được tránh né bằng cách sử dụng các quả
lựu đạn đã rút chốt sẵn đặt
dưới cổ đàng sau gáy với cái thìa ở
dưới để có đủ sức giữ cho trái
lựu đạn không phát nổ. Lúc nào còn áp lực đè
lên thì quả lựu đạn chưa nổ. Nhưng khi
nạn nhân bất tỉnh hay chết đi thì cái
đầu có thể sẽ bị lật qua một bên
khiến trái đạn phát nổ.
Hầu hết
người Mỹ sẽ không bao giờ hiểu nổi.
Đối với người Việt Nam thì trận
đánh này, tất cả mọi trận đánh,
đều là chiến đấu cho sự sống còn.
Quyết định phải bỏ lại các thương
binh và ngầm biết trước là họ sẽ thà
chịu bị nổ tung còn hơn là đối mặt
với một cái đoạn kết còn nhiều đau
đớn hơn không phải là một quyết
định nông nổi. Còn sự lựa chọn nào khác
hơn, có sự lựa chọn nào khác nữa chăng? Trách
nhiệm của công tác được giao phó và mạng
sống của những người còn khả năng
chiến đấu đã được đặt hoàn toàn
lên vai của đơn vị trưởng. Đứng
khách quan mà nhận xét thì sẽ có một sự thông cảm
nào đó, và chắc chắn có một sự trang nghiêm
trước sự chọn lựa duy nhất đó.
Đàng sau bức màn cứng rắn và quyết đoán
đó Ripley biết trong đáy lòng, Bình luôn luôn lo cho các binh sĩ
TQLC. Ripley chỉ có thể tưởng tượng
những quyết định như thế này sẽ
ảnh hưởng đến tâm trí bạn anh như
thế nào. Mặc dù bản thân anh cũng đã từng
suýt chết biết bao nhiêu lần trong những tình
huống vô cùng khó khăn nhưng Ripley cũng thầm
cảm ơn là anh không phải quyết định như
vậy.
NỖ LỰC CỨU
CẤP BAT 21
Nỗ lực
cứu Trung tá Iceal Hambleton, được mệnh danh
"Bat 21" được tiến hành gần như là
ngay lập tức nhưng đã khởi đầu không
mấy thuận lợi.
Bất cứ
lúc nào các phi cơ xung kích và thả bom Hoa Kỳ
được tung ra thực hiện các cuộc không
tập tương tự như ở gần Camp Carroll thì
luôn luôn có một phương sách "Tìm kiếm và Cấp
cứu" (Search & rescue SAR) được kèm theo
như là một phần đương nhiên của kế
hoạch. Lúc Bat 21 bị bắn rơi thì đã có sẵn
nhiều chiếc phi cơ dành cho chuyện này ở trong
vùng, chưa kể còn có thêm nhiều chiếc trực
thăng đang làm nhiệm vụ yểm trợ khác.
Hai chiếc
đầu tiên tiếp ứng định đến
bốc Bat 21 là một chiếc Huey của Quân đội
Hoa Kỳ, biệt hiệu Blueghost 39 và một chiếc AH-1
Cobra võ trang, biệt hiệu Blueghost 28. Cả hai đều
không chính thức thuộc vào nhóm SAR. Giống như tất
cả các phi hành đoàn khác mà các cố vấn Hoa Kỳ
giờ đây đã quen phải dựa vào, Blueghost 39 và 28
chỉ là hai phi hành đoàn sẵn sàng đi bất kỳ
nơi đâu và làm bất cứ những gì cho các đồng
đội đang cần đến. Khi họ đến
gần chỗ bốc thì Blueghost 39 bị bắn hạ
nhanh chóng. Ba trong số bốn người của phi hành
đoàn bị tử trận ngay lập tức.
Người thứ tư bị bắt và sau này xuất
hiện tại Hà Nội với tư cách tù binh chiến
tranh. Blueghost 28 cũng bị hỏa lực dưới
đất bắn lên và buộc phải rút ra khỏi vùng,
tuy nhiên nó đã đáp thành công gần bờ biển mà không
bị tổn thất về nhân mạng. Chiếc Cobra
bị hư hại hoàn toàn. Nỗ lực SAR để
cứu Hambleton từ đây chỉ có xấu thêm mà thôi.
Một khía
cạnh khác của các hoạt động SAR
"điển hình" là chúng gần như luôn luôn
được thực hiện tại những vùng hẻo
lánh, xa các lực lượng Đồng minh đang chiến
đấu trên bộ. Vì những tình huống đó cho nên
điều hợp lý và thực tế là không lực
cần kiểm soát các hỏa lực Không quân cũng như
hỏa lực yểm trợ giới hạn trong phạm
vi vùng dự định tiến hành cấp cứu mà thôi.
Điều này nhằm giảm thiểu lực
lượng phe ta bị trúng đạn phe mình.
Người Mỹ gọi đó là "Trời cao,
đạn bé" (Big sky, small bullet). Chuyện này đã
trở thành thủ tục hành quân căn bản. Không sao
cả. Hoàn toàn tốt thôi ngoại trừ khi có cả
một chiến trường đặc kịt lực
lượng địch cùng với các trang thiết bị
đang tấn công và dàn hàng thành những mục tiêu
tuyệt hảo. Ban đầu, sự thông tin liên lạc
giữa các lực lượng SAR trên không và Trung Tâm Hành Quân
Ái Tử rất thiếu sót và kém hiệu quả. Nếu có
sự thảo luận tốt hơn thì ở dưới
đất đã khuyến cáo mạnh mẽ là đừng
dùng trực thăng tiến hành cứu cấp vội.
Công tác cấp
cứu Bat 21 đã trở thành một khó khăn nữa
phải chấp nhận đối với các nhân sự
trong Trung Tâm Hành Quân Ái Tử. Trong khi đó thì quân Bắc
Việt vẫn tiến hành cuộc tàn sát. Phe Đồng
minh biết chính xác vị trí của Hambleton trong vòng 100 mét
nhờ cái máy phát tín hiệu mà tất cả các phi hành
đoàn đều phải mang theo. Vị trí này ở phía
Đông Bắc cây cầu Cam Lộ và nằm ngay trong vùng
địch. Sau khi Bat 21 đáp xuống thì một số phi
cơ SAR đã rải bom đạn chung quanh vị trí
đó tạo thành một vùng "cấm xâm nhập"
để ngăn địch không vào bắt viên phi công.
Đối với Turley và toán của anh thì cái thế
giới chung quanh họ đang thu hẹp dần nhưng
vẫn rộng lớn hơn rất nhiều so với
trường hợp của Bat 21. Các mục tiêu
địch đã được phơi bày ra quá nhiều
rồi và đây đã đến đúng thời
điểm phải sử dụng tất cả các
phương tiện hỏa lực yểm trợ
để tiêu diệt bọn xấu xa.
Tuy nhiên một
cái tin đã gây sửng sốt cho các nhân sự của Trung
Tâm Hành Quân Ái Tử vào khoảng 9 giờ 15 tối lễ
Phục Sinh khi có lệnh Không Lực số 7 sẽ
tiến hành một cuộc cấp cứu SAR lớn cho Bat
21. Chuyện đầu tiên họ làm là thiết lập
một chu vi cấm tác xạ với bán kính 27 cây số
chung quanh vị trí biết được lần cuối
của Bat 21. 27 cây số! 27 cây số về mọi
hướng. Một khu vực với kích thước
đó thì coi như bao trùm toàn bộ chiến trường
rồi. Bất cứ ai có một chút sáng suốt
đều nhận ra, mà chẳng cần phải nhìn
bản đồ, đây là một điều điên
rồ, hết sức ngu ngốc. Turley đang cần
phải phá hủy cầu Cam Lộ. Anh đang cần
phải dồn tất cả hỏa lực để tiêu
diệt các mục tiêu đang ở khắp nơi trên
mảnh đất phía Bắc Vùng I Chiến thuật.
Ngược lại thì giống như anh vừa gởi
đi một thiệp mời cho bọn Bắc Việt
tiếp tục cuộc xâm lăng gần như là tự
do. Ai đó nằm trên cao hệ thống quân giai chắc
phải đồng ý với anh về điểm này.
Chắc chắn
là có nhiều người nổi điên lên và nghiến
răng kèn kẹt khi tất cả hỏa lực yểm
trợ bị cắt đứt nhằm thi hành lệnh theo
thủ tục SAR của Không quân. Các sĩ quan VNCH trong Trung
Tâm Hành Quân chết lặng. Cả các cố vấn Hoa
Kỳ giúp họ cũng vậy. Mọi người
đều tức giận. Đại tá Định, Lữ
đoàn trưởng Lữ đoàn 258 đang đứng
bên cạnh Turley. Ông đã từng trải qua các kinh
nghiệm kỳ lạ thời chiến, từng chứng
kiến những nét tế nhị và không tế nhị khác
nhau giữa Đông và Tây cũng chịu không nổi. Ông
đưa ngón tay trái lên, nhìn về phía ông bạn Turley và
bình tĩnh nói với một vẻ nhẫn nhục
chịu đựng: "Chỉ vì một người thôi
à?" Gerry lập tức thấy ngay qua vẻ mặt và
giọng nói của Đại tá Định cả sự
thông cảm, điềm đạm lẫn sự hoàn toàn
bị bất ngờ không thể tin nổi. Đồng
thời cũng toát lên sự chấp nhận thái độ
"anh hùng rơm" dỏm của người Mỹ và
sự bực bội cay đắng trước sự
thiếu thận trọng của hành động này
đối với tất cả những ai khác không
phải là người Mỹ, kể cả một vài
cố vấn Hoa Kỳ trong số đó.
Turley không dễ
dàng chịu thua. Cả tay sĩ quan liên lạc Không quân là
Thiếu tá Dave Brookbank cũng vậy. Cả hai cùng với
các nhân viên khác trong Trung Tâm Hành Quân bắt đầu tức
tối sử dụng hệ thống điện thoại
và truyền tin để gọi về Đà Nẵng và Sài
Gòn nhằm thay đổi tình hình hỏa lực yểm
trợ. Không ai thèm trả lời, hoặc ít nhất ban
đầu là như vậy.
Những sự
nhận xét đáng tiếc của một viên tướng Không
quân tại Đà Nẵng có lẽ đã phản ảnh
chính xác tâm trạng của người Mỹ trong cái tháng
4/1972 đó. Viên tướng này mới đầu
tưởng là có hai người sống sót thay vì là một
nên đã tuyên bố: "Tôi thà để mất hai sư
đoàn VNCH còn hơn là mất hai phi công Không lực Hoa
Kỳ." Ai có thể trách ông ta được, hay trách
hầu hết mọi người Mỹ vì những
cảm xúc như vậy? Sau một thời gian quá lâu, quá
nhiều máu đã đổ và quá nhiều sự
đầu tư, để đạt được cái
gì? Sau tất cả các nỗ lực của Hoa Kỳ
tại Việt Nam, thật sự là có quá ít điều mà người
ta có thể nêu ra là thực sự đã đạt
được kết quả khả quan. Vậy mà
nhận xét của viên tướng cũng là thái độ
chung của những người Mỹ đã đến
Việt Nam, đã cống hiến mọi thứ và vì lý do
nào đó, đã không có cơ hội tiếp xúc trực
tiếp với những người Việt Nam
cương quyết bảo vệ đất nước
họ thoát khỏi sự thống trị của Cộng
sản, họ không như Gerry Turley, John Ripley, George Philip và
hầu hết những người khác phục vụ trong
phạm vi cố vấn đã làm vào giai đoạn
cuối của cuộc chiến. Hơn nữa, Việt Nam
không có sự liên quan tự nhiên với dân Mỹ để
có được sự thông cảm ‒ như Do Thái và
người Mỹ gốc Do Thái ‒ do đó càng lúc càng có
ít chính trị gia có đủ uy thế để
đứng ra bênh vực cho một tình thế càng ngày càng
bị mất lòng dân.
Gerry Turley và Dave
Brookbank làm việc cật lực bằng truyền tin và
điện thoại để thuyết phục một
quan chức có thẩm quyền nào đó bình tĩnh lại.
Đàng trước mặt, Turley vẫn phải
đối phó với nhiều sư đoàn Bắc Việt
đang cố sức tiêu diệt cho bằng
được Sư đoàn 3 Bộ Binh VNCH ‒ coi
như họ đã làm gần xong ‒ và hai lữ đoàn
TQLC vẫn còn chống cự mãnh liệt. Phía đàng sau là
một đám nhân sự của MACV hay ai đó vẫn châm
chọc và thách thức quyền hạn của anh.
Hỏa lực
yểm trợ duy nhất mà nhóm của Turley có thể
điều động được là pháo binh còn sót
lại của VNCH và TQLC lúc này cũng chẳng có bao nhiêu.
Bỏ ngoài tai các lệnh lạc, Turley và nhóm cố vấn
Hoa Kỳ chỉ đặt một chu vi sáu cây số chung
quanh Bat 21 để bảo đảm an toàn và cho bắn
tất cả hỏa lực còn lại. Bởi vì hải
pháo không thể bắn tới vị trí của Bat 21 do
đó Turley ra lệnh cho Joel Eisenstein và toán của anh cứ
việc bắn khi nào cần thiết. Đó là tất
cả những gì Turley và họ có thể thực hiện
được trong lúc ngày lễ Phục Sinh từ từ
trôi qua một cách lặng lẽ trên vùng Bắc tỉnh
Quảng Trị.
Turley cảm
thấy cần phải nghỉ ngơi đôi chút
trước khi phải trình diện trước nhân sự
MACV mà anh biết chắc sẽ sung sướng mang anh ra
"đóng đinh" về những tội lỗi mà anh
không chắc đã vi phạm chưa. Trước khi
bắt đầu đi nghỉ và sửa soạn một
giấc ngủ vài tiếng đồng hồ ‒
giấc ngủ đầu tiên sau bốn ngày ‒ anh ăn
một vài miếng khẩu phần C-ration mà anh không nuốt nổi trọn vẹn.
Lấy tấm áo khoác trận dùng làm gối, Turley tìm
một khoảng nhỏ dưới sàn đất xa
nhất trong hầm trú ẩn. Mặc dù đã kiệt
sức nhưng anh không dễ gì dỗ được
giấc ngủ. Ngay cả cái cơ thể tuy bất
động nhưng tâm trí anh vẫn còn như đang
chạy đua. Anh tự hỏi một cách đau
đớn, trong lúc cố gắng lấy lại bình
tĩnh, là liệu anh có thể làm được gì khác
hơn nữa để bảo đảm sự sống
còn của các binh sĩ VNCH và điều gì có thể tránh
cho họ bị tràn ngập? Câu trả lời sẽ
đến không bao lâu sau.
Khu vực
cấm tác xạ chung quanh Bat 21 cuối cùng thì
được giảm xuống một mực độ
chấp nhận được. Trung tá Iceal Hambleton cuối
cùng cũng được giải thoát 11 ngày sau đó.
Đó là một công tác cứu cấp thành công nhờ sự
sáng tạo, lòng quyết tâm, mồ hôi và máu của biết
bao nhiêu chiến sĩ dũng cảm, cả Mỹ và
Việt Nam. Cho đến khi hoàn tất thì nỗ lực
SAR cho Bat 21 là một thành tích đắt giá nhất trong
lịch sử chiến tranh Việt Nam. Kết quả
trực tiếp là 11 người Mỹ đã bị thiệt
mạng và một trở thành tù binh chiến tranh. Ngoài
thiệt hại nhân mạng về phía Hoa Kỳ, nhiều
chiếc phi cơ bị bắn hạ và thật nhiều
chiếc khác bị hư hại nặng vì hỏa lực
phòng không địch. Tuy vậy, thảm kịch lớn
nhất, yếu tố mà không ai biết trong suốt
chuỗi bi kịch Bat 21 là cái giá khủng khiếp mà
người dân thường và các lực lượng VNCH
đã hứng chịu vì hỏa lực đã không
được sử dụng để chống lại
các lực lượng địch quân. Chuyện này đáng
lẽ có thể và phải được thực hiện.
Tình thế đã có thể khác đi nếu các nỗ
lực chống quân Bắc Việt đã không bị
cản trở một cách quái đản như vậy trong
giai đoạn đó.
TRỞ LẠI TRẬN
ĐÁNH TẠI ĐÔNG HÀ
Đối
với các thành phần tham dự chiến dịch
Nguyễn Huệ thì cái ngày Chủ nhật lễ Phục
Sinh là một ngày tưởng chừng như bất
tận. Gần địa điểm chiếc cầu
Đông Hà còn đang bốc cháy (cầu này sẽ còn cháy
trong nhiều ngày nữa), trận chiến đã tiếp
diễn khác hơn lúc Ripley chưa phá hủy cây cầu. Sự
kiện chiếc phi cơ của Không quân Việt Nam bị
bắn rơi bởi một loại vũ khí mới,
chưa từng thấy bao giờ và viên phi công bị quân
Bắc Việt bắt sống đã làm cho khí thế binh
sĩ của Bình tạm thời bị giảm đi.
Đà tiến
của mũi nhọn quân Bắc Việt rõ ràng bị
chận đứng nhờ cái cầu đã bị giật
sập. Hoạt động địch bên bờ Bắc
dòng sông đã chậm hẳn lại, gần như là
chấm dứt sau sự kiện này. Cả Bình và Ripley
đều hiểu rõ là các đơn vị trưởng
địch có lẽ đang co cụm lại bàn tán với
nhau về các phương thức khác, hay đúng hơn,
họ đang chờ thêm chỉ thị của cấp trên
nào đó của hệ thống quân giai đầy uy
quyền của Cộng sản.
Ripley thấy có
vẻ như địch đã tạm thời mất
hứng đánh nhau. Có lẽ chúng được lệnh
phải tiết kiệm đạn dược chăng.
Bọn chiến xa địch gần khu vực cầu
cũng chẳng có mục tiêu nào đáng bắn bởi binh
sĩ của Bình đã tản rộng ra nằm yên ổn
trong các hầm cá nhân. Không có một chiếc T-54 nào có
đường nhắm thẳng vào vài chiếc M-48 của
QLVNCH còn đang lẫn lộn với các TQLC gần khu
vực dòng sông. Mặc dù có một lực lượng
đáng kể địch quân vẫn còn dàn hàng đối
diện với các TQLC ngay tại đầu cầu bên kia,
nhưng nhờ chiếc cầu đã bị phá hủy nên
toàn bộ lực lượng của chúng vẫn còn kéo dài
đàng sau, trên Quốc lộ 1 hay trong những khu vực
lân cận suốt cho đến con lộ. Đúng là
một mục tiêu dài kéo thẳng một đường
bắc nam tuyệt vời cho một cuộc không kích
nếu không kể đến khả năng phòng không
của chúng.
Bọn
địch giờ đây chỉ có hai sự chọn
lựa. Chúng có thể chờ đêm tối và cố
gắng đưa bộ binh vượt sông bằng bè,
thuyền nhỏ hay bất cứ loại nào mà chúng có,
hoặc đơn giản là chuyển quân qua phía Tây qua ngã
Cam Lộ.
Chỗ nào không
đích thân đến được, Bình sử dụng
truyền tin và liên lạc viên để trực tiếp
cùng các Đại đội trưởng điều
khiển các hoạt động chiến thuật. Anh
cũng giữ liên lạc thường trực với
Đại tá Định trong Trung Tâm Hành Quân. Bình và Ripley
bắt đầu thảo luận việc điều
động một số đơn vị để
đối phó với trường hợp địch
chuyển nỗ lực qua phía Tây của thị trấn
Đông Hà. Chiếc cầu xe lửa cũ, ở vào
khoảng hai cây số phía thượng nguồn, vẫn còn
đó và có thể chịu đựng được
một sự lưu thông vừa phải. Cây cầu xe
lửa này nằm sâu phía trong đất liền do đó hải
pháo không thể bắn tới được. Đồng
thời với khả năng phòng không mới mẻ và
hết sức dữ dội của địch, có vẻ
là các binh sĩ Sói Biển không thể trông mong gì là sẽ
được Không quân yểm trợ. Ngoài ra, cây cầu xe
lửa cũng nằm quá xa chỗ chiến sự hiện
tại để điều động một
Đại đội độc lập hay ngay cả cánh
Bravo trong giai đoạn này của trận đánh. Mặc
dù Tiểu đoàn của Bình sắp sửa phải trở
lại phong cách hoạt động theo như thông lệ,
là sẽ chia thành hai cánh Alpha và Bravo, nhưng hiện anh
đang cần phải tập trung lực lượng bên
trong và ngoài thị trấn Đông Hà.
Đại
đội 2 hiện đang trấn giữ sườn Tây
của Sói Biển, vài trăm mét phía Tây của chiếc
cầu. Bình điều Đại đội 3 từ
lực lượng dự phòng lên thêm một hàng vài trăm
thước tại vị trí thượng nguồn của
cây cầu còn đang bốc cháy. Anh đặt đơn
vị này gần bờ sông ngay chỗ đối diện
với cái cồn cát để phòng trường hợp
địch định vượt sông từ bờ
Bắc sang bên cồn cát rồi từ đó chuyển
xuống bờ phía Nam. Đây là một tình huống khá
hiển nhiên vì cây cối trên cồn cát che khuất tầm
nhìn của cả hai bên bờ sông. Đại đội 1
và Đại đội 4 thì nằm yên tại chỗ
như trước mặc dù bên sườn được
trải rộng ra hơn để kiểm soát một khu
vực lớn hơn, cũng như để bảo
vệ chống lại địch dự đoán sẽ
vượt sông vào ban đêm.
Lúc này Bình còn
kiểm soát được tay Tiểu đoàn trưởng
thiết giáp vẫn chịu tiếp tục hợp tác tuy
không nhiệt tình lắm. Hầu hết các chiến xa
đã được bố trí lại trong những khu
vực được củng cố lại tại
Đông Hà và chúng có thể quan sát cũng như bắn phá
các mục tiêu địch từ đàng sau những chỗ
trú ẩn hay đống nhà cửa đổ nát. Các
điều kiện về tiếp liệu để duy trì
đoàn chiến xa đó đòi hỏi sự tiếp
vận và di tản thương binh TQLC của Bình phải
khá hơn tình trạng hiện giờ.
Thiếu úy
Nguyễn Lương và lính của anh được
lệnh phải ở yên tại chỗ đêm hôm đó
để trấn giữ con đường vài trăm
thước đàng sau chiếc cầu. Vì Bình đã
trải Đại đội 1 và Đại đội 4
ra một phòng tuyến rộng hơn tại dòng sông, Trung
đội của Lương bây giờ phải chịu
trách nhiệm khu vực ngay phía Bắc bao gồm các cửa
ngõ sát cây cầu đang cháy. Mặc dù không cần phải
bảo, điều hiển nhiên đối với
Lương là địch sẽ âm mưu vượt sông
gần cây cầu khi màn đêm buông xuống. Đó là
một quyết định mà chính Lương cũng
sẽ thực hiện nếu anh là một trong những tay
chỉ huy của quân Bắc Việt. Có một sự
kiện đã khiến cho viên tân Trung đội
trưởng, vừa mới trải qua một phần
hoạt động chiến sự trong ngày tuy chưa
thực sự lâm trận hay dẫn dắt thuộc hạ
vào cuộc vì cả ngày đóng ở vị trí phía sau cây
cầu, tăng thêm phần tự tin là có một chiếc
M-48 đã trấn giữ vị trí ban đêm ngay bên cạnh
ban chỉ huy tí hon của anh gần một cửa tiệm
bán bánh xe cũ.
Không ai có thể
khiển trách các lực lượng Bắc Việt trong
cuộc tấn công Đông Hà cả. Cũng không ai có
thể nghi ngờ sự kiên trì và tập trung để
giành thắng lợi. Các thiệt hại về nhân mạng
mà chúng giáng lên đầu người dân vô tội nay
biến thành nạn nhân chiến cuộc đã di tản hay
nằm chết tại nơi họ bị thảm sát
đã chứng minh điều đó. Bọn Cộng
sản muốn Đông Hà. Đông Hà là chìa khóa cho phần còn
lại của tỉnh Quảng Trị. Nếu chúng có
thể chiếm và kiểm soát Đông Hà thì rõ ràng là chúng có
thể chiếm Quảng Trị, và sau Quảng Trị thì
chúng sẽ lại âm mưu chiếm Huế một lần
nữa. Trong giai đoạn này của cuộc công kích,
điều then chốt là chúng phải chiếm phần phía
cực Bắc của đất nước vì một
số lý do, tất cả là lý do về chính trị và
tất cả cũng là lý do về tâm lý.
Đồng
thời cũng trong giai đoạn này của cuộc công
kích, điều then chốt đối với quân phòng
thủ còn lại ít ỏi của miền Nam là phải bám
vững phần phía Bắc của đất nước,
cũng vì một số lý do, tất cả cũng là lý do
chính trị và tất cả cũng là lý do về tâm lý.
Sự khác biệt giữa hai bên, khi màn đêm buông xuống
tại phần đất phía Nam của Quân đoàn I, là
chính phủ Sài Gòn có ít quân bảo vệ điểm
đụng độ hơn là bọn xâm lược
đang mưu toan chiếm lấy nó.
Tùy theo quan
điểm của mỗi người, bọn Bắc
Việt có thể được khen ngợi vì lòng
quyết tâm chiếm cho bằng được Đông Hà
hoặc bị chê bai vì những chiến thuật ngu
xuẩn xướng ra bởi bọn lãnh đạo đã
ung dung thí quân một cách vô tội vạ vào những
điểm đụng độ nhất thời không thuận
lợi cho chúng. Có lẽ điều này do lòng trung thành mù
quáng của bọn Cộng sản là phải tuân theo
bất cứ chỉ thị nào của đảng, và không
có quyền đi chệch kế hoạch đã định
trước nếu không muốn bị cấp trên khiển
trách. Kế hoạch của chúng là chiếm Đông Hà tại Đông Hà. Bây giờ
không còn cây cầu nữa thì càng thêm thử thách. Tuy vậy,
chúng vẫn rắp tâm tiếp tục tấn công trực
diện thay vì đi vòng (như ban đầu chúng có nghĩ
tới) hay dùng một phương cách thay thế nào khác.
Những cuộc tấn công ban đêm gần như là
bất tận và tự sát ngay vào "mõm" các Sói Biển
đang phòng thủ chặt chẽ hoàn toàn vô hiệu
quả, giống như một đàn kiến điên khùng
tấn công vào một món đồ bất động mà
bọn trẻ con ném xuống gần cái tổ kiến
rồi khoái trí thấy bọn kiến phản ứng
một cách điên cuồng và vô nghĩa.
Có thể không
mấy ai nghi ngờ sự can đảm của bọn
lính Bắc Việt cứ lao đầu tuân theo lệnh trên
nhưng chắc chắn là có nhiều bậc cha mẹ không
có tiếng nói ở miền Bắc sẽ bị não lòng vì
cái cách vô nghĩa mà con em họ đã bị đưa vào lò
sát sinh. Đối với các binh sĩ Sói Biển đã
trải qua đêm ngày 2/4/1972 gần bờ sông Cửa
Việt thì họ đã không ngủ được nhưng
rất thỏa mãn đã chiến thắng được
kẻ thù, ít nhất là ngay lúc này.
Chiến sự
đã tạm lắng phần nào sau khi cây cầu Đông Hà
bị phá hủy. Trong lúc Bình và viên cố vấn tín cẩn
làm việc để bảo đảm cả bốn
Đại đội tác chiến đã được
tiếp tế đầy đủ và bố trí tại các
vị trí tốt nhất để đẩy lui bọn
xâm lược chắc chắn sẽ lẻn qua trong
đêm, thì hai bên tấn công và phòng ngự vẫn còn trao
đổi qua lại bằng súng trường và liên thanh,
tuy chậm rãi nhưng khá đều đặn. Tuy nhiên
không có gì nặng nề cả.
Binh sĩ Sói
Biển không phải chờ đợi lâu sau khi màn đêm
buông xuống để đẩy lùi bọn địch.
Mặc dù rõ ràng là bọn Bắc Việt có thể
đưa quân vượt sông qua ngã cây cầu xe lửa
cũ, và chúng đã làm điều đó, nhưng
dường như bọn họ không cưỡng lại
nổi ý định muốn tấn công trực diện các
vị trí phòng thủ mà Tiểu đoàn 3 đã đặt
trước mặt chúng. Trên thực tế, chúng đã
đưa được người qua cái cồn cát tí
hon giữa sông Cửa Việt và âm mưu vượt cái khoảng
cách ngắn để qua bờ sông phía Nam. Địch
cũng điều động được quân lính
vượt qua sông ở gần hay ngay tại cầu
Đông Hà.
Đối
với các TQLC thuộc các Đại đội 1 và 4
đóng gần cầu, và Đại đội 3
đối diện với cái cồn cát, đêm hôm đó là
một đêm không ngủ. Chỉ đến lúc sáng sớm
hôm sau họ mới nhận ra là họ đã tham dự
một cuộc "bắn bia sống" như thế
nào. Họ không thể biết chắc chắn bao nhiêu tên
quỷ đỏ họ đã sát hại được vì
có quá nhiều quân Bắc Việt bị giết chết hay
bị thương đã bị cuốn trôi ra biển
Đông bởi dòng sông Cửa Việt chảy xiết ngay
tại Đông Hà. Các TQLC không tìm thấy bao nhiêu xác chết
nhưng phần lớn là các mảnh thân thể
địch bị tan xác bởi trận hỗn chiến hồi
đêm.
Lần xung
trận chính thức đầu tiên của Lương
xẩy ra đêm hôm đó. Nhờ hệ thống ống
nhòm ban đêm tuy thô sơ nhưng khá hiệu quả của
chiếc chiến xa đậu cạnh vị trí của
anh, Lương và đồng đội đã quan sát
được một toán có lẽ là một tiểu
đội trinh sát của địch đang tiến lên.
TQLC lập tức tung ra vài quả M-79 khi bọn chúng
vừa đến khoảng đất trống sau khi ra
khỏi khu vực tương đối an toàn mé bờ
sông. Những tên lính địch bị giết ngay trong vòng
vài giây đồng hồ sau loạt đạn này.
Lương không chắc có bao nhiêu tên sống sót, nhưng
những binh lính của anh nghĩ rằng nếu có thì
chỉ có vài tên, đã rút chạy được về khu
vực dòng sông. Cuối cùng thì Lương đã lần
đầu tiên "lấy máu" được kẻ thù
truyền kiếp của anh.
Đồng
thời với âm mưu lén đưa một số
đơn vị bộ binh vượt qua sông tại
những khu vực khác nhau đối diện với
thị trấn Đông Hà, bọn Bắc Việt cũng
chuyển một phần lực lượng thiết giáp
qua phía Tây tại Cam Lộ. Con lộ dẫn ra hướng
Tây, nằm bên phía bờ Bắc và chạy song song với
dòng sông Cửa Việt, ít nhất là cái đoạn
đủ sức chịu đựng các chiến xa T-54,
lại không đủ rộng chút nào. Nó chỉ là một
cái đê giữa các ruộng lúa và ở nhiều chỗ
chỉ vừa đủ cho một chiếc xe tăng
chạy qua.
Ripley có thể
nghe thấy tiếng xích xe tăng từ bên này bờ sông.
Ngay loạt đạn hải pháo đầu tiên trong
đêm, họ được may mắn một cách kỳ
diệu là bắn trúng một chiếc chiến xa đang di
chuyển về hướng Tây. Ngay cả con lộ
cũng thẳng tắp tuyệt đối cho các chiến
hạm ngoài khơi có thể bắn dễ dàng theo trục
ngang từ Đông qua Tây. Chiếc chiến xa bị bốc
cháy làm sáng cả khu vực chung quanh khiến Ripley lại
càng dễ quan sát hơn và điều chỉnh những
loạt đạn tiếp theo vào các mục tiêu khác chính xác
hơn. Các chiến hạm lại một lần nữa
bỏ mặc qui lệ "độ sâu 5
trượng" để hỗ trợ hết sức
cho các TQLC trong khả năng của họ. Các mục tiêu
mà họ bắn trúng hiện đang ở tầm gần
như là tối đa cho các khẩu trọng pháo trên
tầu. Ripley muốn tận dụng từng thước
cho tầm bắn và anh đã làm được điều
đó.
Cộng thêm vào
hiệu quả đặc biệt của hỏa lực
hải quân, một cuộc không kích B-52 ARCLIGHT đã
được tiến hành trong khu vực phía Bắc
của dòng sông. Những trái bom lại tình cờ rơi
đúng vào thời điểm các trái đạn hải pháo
đang rớt xuống. Có đến hàng trăm và hàng
trăm quả bom đã rơi trúng nhiều xe cộ và lính
Bắc Việt. Ripley, Bình và tất cả các Sói Biển bên
bờ Nam đều có thể nghe thấy tiếng kêu thê
lương của bọn địch bị thương
và đang dãy chết. Tình hình chiến sự trên bộ, có
lúc bị ngắt quãng nhưng đôi khi rất mãnh
liệt, tiếp tục kéo dài suốt đêm.
Với tất
cả những gì đang xảy ra, Ripley và Bình đã có
cơ hội củng cố lại vị trí của
Tiểu đoàn và ngay cả có thể tìm cách nghỉ
ngơi đôi chút. Bình đã tin tưởng tuyệt
đối vào các Đại đội trưởng và
chiến sĩ của Sói Biển. Anh và Ripley đã làm
tất cả những điều gì có thể làm
được để sửa soạn cho Tiểu
đoàn đối phó với mọi tình huống có thể
xẩy ra trong đêm.
Trung tá Lê Bá Bình và bà Trung Tướng Lê Nguyên Khang trong buổi lễ tiếp tân
ra mắt phim "Ride The Thunder" tại Westminster, California