Vào khoảng năm 1953, Hà Nội ở trong thời kỳ cực thịnh, phát triển về mọi mặt.

 

Riêng về những món đồ chơi của trẻ con cũng đă rất nhiều thứ vui mắt, đủ cho mọi lứa tuổi. Có những thứ dành cho học sinh tiểu học. Có loại chế tạo cho lứa tuổi trung học. Đặc biệt thời Pháp ở Việt Nam, không thấy món đồ chơi nào dành cho người lớn. Có thể giai đoạn đó, đồ chơi là chỉ cốt nhắm vào trẻ con. C̣n khi đă trưởng thành, ai cũng bận rộn về những công việc cần thiết cho bản thân quan trọng cho xă hội.

 

Sau 20-7-1954, Việt Nam bị chia đôi.

 

Miền Nam sống trong thái b́nh, thịnh vượng.

 

Đầu tháng tám năm 1964 khu trục hạm Maddox của Mỹ đang trong vùng vịnh Bắc Việt th́ bị tấn công bởi tàu tuần duyên của Việt Cộng. Hai lần tất cả. Lần đầu tiên vào ngày 2-8 lần thứ nh́ ngày 4- 8. Sau biến cố đó, Mỹ bắt đầu đổ quân vào Việt Nam.

 

Cùng theo với việc này sự tràn ngập tất cả mọi thứ hàng hóa của người Mỹ. Báo chí, sách vở đủ mọi loại, in rất đẹp thường rất dầy. Một điểm đặc biệt nữa, tôi để ư ngay là ngoài những món đồ chơi dành cho trẻ em mọi lứa tuổi, lại c̣n những món đồ chơi cho người lớn. Thí dụ những hộp trong đó có những miếng nhỏ bằng nhựa hay kim loại mà khi lắp lại với nhau người ta có thể có một chiến hạm, một tiềm thuỷ đĩnh, nhiều kiểu máy bay, từ vận tải tới chiến đấu. Những thứ này được treo trong nhà bầy trên mặt bàn, hay trong tủ kính. Những món này người th́ nhờ những bạn bè người Mỹ mua trong PX để được giá rẻ, kẻ th́ mua tại mấy chỗ trời Mỹ, giá cũng ngang ngửa. Loại chợ trời hàng Mỹ này họp tại ba, bốn nơi trong mỗi tỉnh lớn, hoặc một chỗ nhất định trong tỉnh nhỏ.

 

Một món đồ chơi tôi cho mới lạ. Đó là những hộp, trên mặt có in những bức tranh. Thường thường là một h́nh phong cảnh. Đa số cảnh núi non, thác nước, sông biển trên đất Hoa Kỳ. Cũng có bức vẽ cảnh sinh hoạt của miền Tây nước Mỹ. Những hoạt động t́m vàng.

 

Trẻ con người lớn mở những hộp này ra, không thấy bức tranh nào. Chỉ thấy toàn những mảnh vụn nhỏ. Nói đúng ra là bức tranh đă bị cắt bằng máy thành 500, 700 hay cả 1000 miếng. Muốn tạo được một bức đẹp như ở trên nắp cái hộp giấy người ta phải mất nhiều công. Trước hết bầy tất cả những mảnh vụn này ngửa mặt lên, lung tung, không theo thứ tự nào trên mặt bàn hoặc là trên sàn nhà. Sau đó ngồi ngó từng miếng. Khởi sự bằng lắp 2 miếng vào với nhau sao cho hợp rồi 3,4, miếng, cho tới hết.

 

Công việc này là một giải trí đặc biệt cho cả trẻ em lẫn người lớn. Từ vài tuổi trở lên cho đến lúc đă gần đất xa trời. Nói thế có nghĩa là dù sức khỏe yếu đến đâu cũng vẫn tiêu khiển được. Chỉ cần phải có cặp mắt c̣n thấy được mới có thể tạo nên bức tranh.

 

Chữ tiếng Anh để chỉ việc này là to do a jigsaw. Mới đầu thấy hay hay, tôi cũng thử. Tôi không sao lắp được cả. Dù cho chỉ năm, bẩy miếng cũng không khớp vào với nhau được.

 

Thỉnh thoảng lắm tôi có thấy một vài hộp, trên nắp có h́nh của nhng cô đào chiếu bóng ̣ (đó là tiếng nôm đ gọi nhng nữ tài tử xinê). Lẽ nhiên số người thích những nữ tài tử này cũng có, có khi c̣n nhiều hơn số người thích h́nh phong cảnh.

 

Tôi chưa bao giờ cho là ḿnh sẽ lắp những mảnh h́nh thành được một bức tranh. Thế nhưng, nay tôi tự nghĩ: ḿnh thử cố lắp những mảnh h́nh, được vẽ bởi những người khác nhau. Nam có, nữ có, từ những người trong y-giới và cả những ngành khác. Nhưng toàn là người Việt Nam.

 

Mảnh h́nh chữ Nhân

 

Đời sống quân ngũ là nơi có nhiều điều kiện nhất để gặp rất nhiều người với đủ mọi tính, để làm bạn. Bạn để vui đùa, bạn đi uống rượu, bạn để đánh bài, bạn trong lúc chiến đấu, vân vân… Nếu một người ở trong quân ngũ một năm, số người quen biết tương đối ít. Nhưng đă đi lính hai mươi lăm năm số lượng quen ắt đếm không kể xiết. Có người sống ¼ thế kỷ trong quân đội, mà cuối cùng chỉ c̣n liên lạc với ba người. Chẳng phải tất cả những người ông đă biết trong những đơn vị ông từng phục vụ đều đă hy sinh. Cùng không phải đă giải ngũ hết, sống trong môi trường khác, nên ông không liên lạc với nhau được.

 

Yếu tố chính trong việc này liên quan đến ḷng nhân. Xin mời xem một quân nhân, ông văn Tâm, vẽ lại cảnh này.

 

…“Bây giờ xin phép được dông dài về ông bạn già mà tôi vừa quư mến vừa khâm phục. Trong suốt cuộc đời lính gần 25 năm, qua nhiều nơi Bắc, Trung, Nam quen biết rất nhiều bạn bè. Nhưng cuối cùng cho đến nay tôi chỉ c̣n liên lạc với ba người bạn trong đó  có một người là bác Bạch Đ́nh Minh. Có một điều lạ lùng là cả ba người đều gặp gỡ nhau tại cùng đơn vị: trung đoàn 181, Pleiku, nơi quanh năm mùa đông, vào năm 1955, 1956. Tôi xin phép kể chi tiết một chút về cơ duyên đặc biệt đă cho chúng tôi gặp gỡ nhau. Pleiku vào thời đó c̣n ít người lắm, nhất người Việt. Đơn vị tôi phần lớn lính Thượng, không nói tiếng Việt. Họ thường nói tiếng Pháp những đơn vị này của Pháp chuyển sang. Trước Bác sĩ Minh Bác Đỗ Xuân Giụ một số bác nữa, tôi không nhớ hết tên. Anh Giụ cũng đă ở cùng đơn vị với tôi, trong một đơn vị tại khu chiến (secteur) Ninh Giang trước 1954.

 

Một kỷ niệm cũng một ấn tượng về bác Minh mà tôi không bao giờ quên một buổi chiều mưa, mà như anh đă rơ, đường xá Pleiku khi mưa thường lầy lội. Tôi đứng cửa nh́n trời, thấy bác Minh mặc áo mưa đi bộ ngoài   đường. Tôi   hỏi: “Anh đi đâu giữa lúc trời mưa này?”

Bác sĩ Minh đáp: “Tôi sang trại gia binh. Tôi nói: “Trời gần tối rồi, trại gia binh măi bên kia đồi, sao không để mai hăy đi?”

Ông đáp: “Buổi chiều nay, tôi có khám và cho thuốc một anh lính thượng. Tôi đă dặn cách uống, nhưng sợ anh ấy không hiểu rơ, nên phải đến tận nơi xem lại.”

Chỉ một sự việc thế thôi mà tôi thêm cảm mến và kính phục Ông ấy từ ngày đó.”

Vũ văn Tâm.


 

Mảnh h́nh chữ Nghĩa

 

Thật ra tôi nghe đến tên của ông Bạch Đ́nh Minh từ 1955.

 

Hiệp định Genève vào ngày 20-7-1954, th́ tháng 8-1954, anh Trần Xuân Ninh tôi đă vào tới Sài g̣n. Số người di cư tăng quá nhanh. Chính phủ dùng một bệnh viện đang xây dở dang đường Général Lizé cho họ tạm trú. Cả ngàn người trong đó. Ngày nào chúng tôi cũng vào bệnh viện này (sau trở thành Bệnh Viện B́nh Dân) để t́m xem có thấy một người bạn hay một thân nhân nào không.

 

Một hôm anh Ninh thấy một người bạn quen tên Thái Văn Tùng, trước cũng học Chu Văn An ngoài Bắc, hơn anh Ninh một lớp. Anh Tùng nói, không có ai họ hàng quen thuộc ở trong Nam, hiện cũng không có chỗ nào để ở. Anh Ninh mời anh Tùng về nhà. Anh Tùng rất cảm động. Chúng tôi ăn cùng mâm. Và buổi tối Anh Tùng cũng ngủ cùng một gầm bàn với chúng tôi (Đây nhà chú ruột tôi, rất đông người, vô cùng chật chội). Anh Tùng có khuôn mặt xương xương, quê ở Nghệ An. V́ thế, nói chuyện với Ninh tôi rất hợp. Lư do: anh không lạ tỉnh Vinh, chúng tôi lại đă sống tại đó một thời gian khá dài. Anh kể, ba má anh giầu có trong làng. V́ thế bị Việt Minh đấu tố đến mất mạng. Anh bỏ trốn. Anh hơn tôi 5 tuổi. Lúc nào tôi cũng phục anh về cách xử với mọi người. Một hôm anh đi đâu chơi về không biết, khoe với chúng tôi rằng, mới gặp lại một ông thầy cũ, dậy anh ở Vinh. Thầy đối xử với anh hết sức ân cần dặn anh cứ mỗi thứ bẩy, chủ nhật đến chơi với ông. Mỗi lần thăm ông xong trở về, vẻ mặt anh Tùng vui tươi hân hoan như vừa gặp một bậc cao tăng đắc đạo. Anh kể lại những mẩu chuyện liên quan đến mọi đức tính của thầy. Anh bảo thầy tên là Bạch Đ́nh Minh, thần trí khoan hoà, đang học Y Khoa.


 

Bác sĩ Minh đă có lần mời anh Tùng về nhà ông ở. Nhưng anh Tùng xin từ chối và tiếp tục ở lại với chúng tôi.

 

Năm 1957, Bác Minh lên Pleiku làm việc tại Quân Y Viện. Bác Minh đă dùng Nghĩa, đối xử với người.


 

Tuyên thệ sau khi tŕnh Luận Án Y Khoa Bác sĩ. Bác sĩ Minh mặc áo choàng đen, đại diện anh em đọc lời thề Hippocrates.


 

 

 

H́nh kỷ niệm sau lễ Tŕnh luận án.

 

Hàng trước,từ trái qua phải: Giáo sư Trịnh Văn Tuất,Khoa Trưởng Phạm Biểu Tâm, Giáo Sư Nguyễn Đ́nh Cát.

Hàng sau: từ trái qua phải, Bs Để, Bs Trần Lâm Văn Bao, Bs Phạm Hữu Phước, Bs Huyền,Bs Bạch Đ́nh Minh,

Bs Phạm Văn Biểu, Bs Từ Uyên.


 

 

 

Dưới đây là một câu chuyện một người khỏe mạnh đi thăm một người bệnh. Thông thường khi một người đang nằm bệnh viện được một người đến thăm, câu chuyện thường liên quan đến bệnh. Người bị bệnh sẽ tỉ mỉ kể những chi tiết ḿnh bị bệnh trong hoàn cảnh nào. Kế đó, lúc nhập viện, rồi hiện trạng khá hơn hay tồi hơn lúc đầu. C̣n người đi thăm phần chính cũng hỏi, xoay quanh những điều vừa kể.

 

Thế nhưng câu chuyện bác sĩ Phan Ngọc Hà (tức Phan bảo Thư) kể một trường hợp hơi lạ.

 

“ Vốn sinh sau đẻ muộn, tôi chỉ mới nghe tên tuổi của bác sĩ Bạch Đ́nh Minh vào đầu năm 1968 sau biến cố Tết mậu thân. Khi đó tôi đang học lớp dự bị Y khoa (APM) niên khóa 67- 74. Tôi đi thăm anh của một người bạn thân đang được điều trị ở Tổng y viện Cộng Ḥa.

Đến thăm anh, anh hỏi tôi có biết bác Bạch đ́nh Minh, bác điều trị cho anh không? Tôi trả lời rằng có nghe nói nhưng chưa gặp bao giờ.

Suốt buổi anh chỉ nói về bác Minh, nào sự liêm khiết, khiêm tốn, sự tận tụy đối với thương bệnh binh… Những câu chuyện về gương thanh liêm hay tận tụy của vị bác do chính anh chứng kiến hay do người khác kể lại. Chuyện bác Minh chỉ có mỗi một chiếc xe đạp để đi lại.

Anh nói huyên thuyên tôi chỉ ngồi nghe một cách thích thú về những đức tính tốt của một thần tượng trong nghề nghiệp tương lai của ḿnh đến nỗi khi ra về tôi đă quên hỏi anh về t́nh trạng sức khỏe, mục đích của lần viếng thăm ngày hôm ấy.

 

Bác sĩ Phan Ngọc Hà.


 

Mảnh h́nh chữ Lễ

 

Bác sĩ Hà kể một chuyện khác:

 

Năm cuối cùng ở trường y khoa tôi có nhiều dịp gặp bác sĩ Minh hơn khi đi thực tập ở trung tâm Y-khoa Gia- định, bệnh viện Nguyễn Văn Học. Khi ấy cụ đă về làm bác thường trú của trung-tâm, đảm trách chức vụ nội khoa lầu 2. Tôi làm nội trú ngoại khoa ở lầu 1D của bác Nguyễn Duy Cung. Một hôm có việc lên lầu hai thăm một bệnh nhân gặp cụ ở cầu thang. Cụ chào tôi trước khi tôi chào cụ. Thấy tôi đi hơi vội vă, cụ đứng lại nhường lối đi nói: đi cẩn thận. Nghĩ lại, tôi thật vô lễ với cụ. Đáng tôi phải chào cụ trước, nhường lối đi cho cụ th́ mới phải phép. Lời khuyên cẩn thận thật đơn giản nhưng nếu tôi ghi nhớ trong mọi hành động và suy nghĩ, tôi đă tránh được rất nhiều lỗi lầm.

 

Bác sĩ Phan Ngọc Hà.

 

 

Hành động tránh đường của bác Bạch Đ́nh Minh nhiều ư nghĩa.

 

Thứ nhất cụ là người trọng Lễ.

 

Thông thường người Việt ḿnh quan niệm lễ là cách người nhỏ dùng khi đối xử với các bậc trưởng thượng, hoặc cũng có thể giữa hai người ngang hàng với nhau. Nhưng hội ít khi đ̣i hỏi người trên phải có lễ đối với người dưới.


 

Bác sĩ Bạch Đ́nh Minh khác hẳn.

 

Ông tránh đường nhường cho bác Phan Ngọc Hà v́ khi đó bác Minh đă coi bác cũng như chính ḿnh. Thứ hai chỉ một thoáng qua nhận xét thấy bác sĩ Phan Ngọc Hà đi hơi vội vă, bác Minh đoán ngay một bệnh nhân đang trong t́nh trạng khẩn cấp rất cần sự săn sóc của một bác sĩ. Trong nghề y khoa nhiều khi chỉ sớm một phút, đă có thể cứu được một mạng người. Và trễ một phút đă có thể một người chết oan. Nghĩ tới điều này trước nhất nên bác Minh lập tức nhường đường để một bệnh nhân có thể được giúp đỡ kịp thời. Một hành động này thôi chúng ta sẽ thấy ngay hai điều: Một ḷng Nhân cao cả một cách Lễ nghiêm trang, lúc nào cũng đầy trong cách hành xử của bác Minh. Lại thêm một lời khuyên: Đi cẩn thận. Đó cách nói của kẻ Trí. Bởi sơ sẩy một chút chính người bác đang cần đi tới giúp bệnh nhân sẽ bị té. hai chuyện không tốt sẽ xảy ra: Bệnh nhân lâm nguy, bác gặp nạn, thương tích nặng nhẹ tới mức nào chưa biết được.

Bác sĩ Minh trọng Lễ nhưng không hề là người nhu nhược. Ông vô cùng bất khuất.

 

Khoảng 1968, số thương bệnh binh tăng nhiều, gấp đôi khả năng tối đa ấn định cho một Tổng y viện là 2000.

 

Các quân y sĩ và y tá tận tụy làm việc không kể ngày đêm, không ngừng tay mà vẫn không xuể. Có kẻ nói xấu lên bộ Tổng Tham Mưu.

 

Bộ Tổng Tham Mưu cử một phái đoàn được dẫn đầu bởi Đại tá ĐVK, xuống thanh tra. Đúng giờ hẹn đại tá ĐVK bước vào pḥng hội Tổng Y Viện.

Y trưởng Tổng Y Viện Đại Phạm Thanh đang bận trong pḥng giải phẫu, chưa xong nên không ra để họp được với Đại Tá ĐVK. Y sĩ Trung tá Bạch Đ́nh Minh, Chỉ huy phó, được chỉ định đại diện cho Đại Tá Thanh.

 

Đại Tá ĐVK lên tiếng chỉ trích Tổng Y Viện, rằng các bác sĩ y tá không làm tṛn nhiệm vụ, bê bối trong công việc.

 


 

Du học tại Hoa Kỳ, 1962. Từ trái sang phải:

Y Thiếu Phạm Thanh,Y Đại Úy Bạch Đ́nh Minh.

 

Bác Minh tŕnh bày: “Nhân danh chỉ huy phó Tổng y viện Cộng Ḥa tôi xin nói ngay rằng các Quân Y y tá của chúng tôi trong thời gian qua đă làm việc ngày đêm không ngừng. Các bác không hề đi trễ về sớm. Không ai trong giờ làm việc đi làm ở pḥng mạch tư. Không ai bỏ trực gác. Ngay cả Chỉ Huy Trưởng Chỉ Huy Phó cũng đều trực gác như các bác sĩ khác. Hiện giờ số bệnh nhân đă nhiều gấp đôi số lượng tối đa được ấn định 2000, quá mức khả năng điều trị. Và cũng quá sức cố gắng, tận tụy của y y tá. Xin bộ tổng tham mưu tăng cường nhân lực vật lực.


 

Tất cả những báo cáo nhằm chỉ trích về Tổng Y Viện Cộng Ḥa đều không đúng sự thật.”

 

 

Đại Tá ĐVK không những không muốn công nhận sự tận tụy của các bác sĩ và y tá, mà lại c̣n nổi giận, muốn lớn tiếng, lấy thịt đè người, khiển trách: “các anh làm việc tắc trách. Đă có nhiều báo cáo lên bộ Tổng Tham Mưu…” Bác sĩ Minh liền nói: “Tôi đă tŕnh bày hết tất cả mọi sự thật. Nếu Đại Tá muốn nghe thêm những điều ǵ khác, xin Đại Tá cảm phiền ngồi đây chờ Đại Tá chỉ huy trưởng của chúng tôi, giải phẫu xong sẽ tới đây. Bây giờ tôi không c̣n ǵ để tŕnh bầy với Đại Tá nữa. Tôi phải trở về ngay trại bệnh để lo cho những bệnh nhân. Xin Thiếu Tá Quản Lư Tổng Y Viện ở lại mời Đại Tá sơi nước.”

 

Bác Minh bước ra khỏi pḥng hội,đi thẳng, không cần biết thêm phái đoàn ĐVK đến bao giờ th́ tự ra về, hay c̣n ngồi trơ lại đó chờ gặp Đại Tá Phạm Hà Thanh.

 

một Trung Bác Minh dám bỏ pḥng họp không muốn nghe thêm một Đại muốn nổi giận, cả lấp miệng em , th́ đủ biết Bác Minh bất khuất là dường nào. Đó cái Dũng của kẻ sĩ.


 

 

 

Từ phải sang trái: Nha sĩ Đại Úy Đỗ Đ́nh Vị , Y sĩ Trung Tá Bạch Đ́nh Minh(giữa) và hai con,


 

 

Mảnh h́nh chữ Trí.

 

Năm 1957, Bác Minh là Ysĩ Trưởng Quân Y Viện Pleiku. Khi Đại tá Nhẩy Dù Đỗ Cao Trí được bổ nhiệm làm tư lệnh Quân Khu 3 trên Pleiku, một bác Nhẩy Dù, tên V. V. Cửu đi theo. (Quân Khu 3 hồi đó có B́nh Định, Phú Yên, Pleiku, Kontum; sau này thêm Nha Trang Ban Thuột mới đổi tên thành Quân Khu 2).

Bác Cửu, dựa hơi Tư Lệnh, muốn lên mặt có quyền. Ông hạ lệnh các bác phải cắt tóc ngắn. Ngày mai Lệnh sẽ đi khám tóc. Sẽ có một người lính cầm tông đơ đi theo. Ai tóc dài, sẽ bị đưa một đường thẳng từ trước ra sau. Và để cái lệnh của ḿnh phải được tuyệt đối thi hành, bác Cửu đă nhấn mạnh thêm: ”Cắt càng ngắn càng tốt”.

 

Bác sĩ Bạch Đ́nh Minh không phải muốn phá kỷ luật quân đội nhưng chỉ muốn cho Bác sĩ Cửu biết, không phải là cấp trên, ông ta có quyền muốn nói ǵ th́ nói.

Ngày hôm sau sẽ ngày khám tóc. Là Y Trưởng, Bác Bạch Đ́nh Minh cắt trọc lốc. Các đồng nghiệp khác, đoàn kết lại, làm theo. Trong số đó có bác Trịnh Cao Hải cùng lứa với Bác Minh, Bác Trương Minh Tiên, Bác sĩ Nguyễn Mạnh Đức, Dược Phạm Hy Tân. Khi bác sĩ Cửu tŕnh diện nhóm bác ở Quân Y Viện cho Đại Trí, Đại tá Trí hỏi sao có hiện tượng đó. Bác Minh thưa: “Bác Cửu ra lệnh.

 

Bác sĩ Cửu ở trong t́nh trạng khóc giở mếu giở.

 

Vị Tư Lệnh chỉ nh́n bác sĩ Cửu không nói ǵ, nhưng ư như muốn bảo “ông ra cái lệnh ǵ mà kỳ cục vậy?” Bác sĩ Cửu tự cảm thấy sượng mặt.


 

Bác Bạch Đ́nh Minh biết kỷ luật sức mạnh của quân đội. Ông tôn trọng nó, nhưng ông không bao giờ dùng để đánh bóng cá nhân hay làm một chiêu bài để ḿnh quát thét mắng chửi anh em.

 

Cuối năm 1960, Bác Minh đi làm Ysĩ Trưởng Quân y viện Nha Trang. Đại Tá Trí giữ chứcTư Lệnh Quân Trấn Nha Trang, Đồng Đế.

 

Thời đó Việt Cộng chưa tấn công nhiều. Hết giờ làm việc, quân nhân có thể mặc thường phục. Tuy nhiên Đại tá Trí không muốn ai lợi dụng xe Jeep thứ dùng trong lúc làm việc, chứ không phải để lái đi chơi loanh quanh. Do đó ông hạ lệnh không một quân nhân nào dù cấp bực cao đến đâu, hoặc nắm chức vụ đi chăng nữa, được phép mặc quần áo dân sự lái xe jeep đi chơi. Hoặc là tài xế mặc quân phục lái, người ngồi cạnh mặc dân phục cũng không được. Lệnh này rất nhiều điều hay. Thứ nhất không ai được lạm dụng quân xa. Thứ hai tránh cho dân chúng nh́n vào thấy quân đội chỉ gồm toàn những người “ngồi chơi”, phí phạm công quỹ.

 

Sau khi lệnh này ban ra các quân y lẽ dĩ nhiên cũng phải tuân hành. Tuy nhiên đang là Y sĩ trưởng Quân Y viện bác sĩ Minh hỏi Đại tá Trí một câu rằng: “Thưa Đại Tá, buổi chiều hết giờ làm việc, nếu không phải phiên trực, chúng tôi mặc thường phục đi dạo phố ăn uống,hoặc đi chơi ngoài băi biển. Đi tới chỗ nào chúng tôi đều nói cho thuộc cấp biết. Nếu bất chợt một quân xa chạy ra nơi chúng tôi đang ngồi bảo rằng chuyện khẩn cấp trong quân y viện. Thưa Đại Tá khi đó chúng tôi phải làm ǵ?

 

Phải chờ đón được một xe xích lô rồi mới về quân y viện, hay sẽ phải đi bộ hoặc chạy bộ để kịp về quân y viện cứu chữa thương bệnh binh. Xin đại tá cho chỉ thị. ”


 

Đại tá Trí thấy câu hỏi của bác sĩ Bạch Đ́nh Minh, rất có lư. Câu hỏi này không nhắm vào việc cố ư bất tuân thượng lệnh nhưng lại quan tâm tới tính mạng thương bệnh binh. Điều này phát ra từ tấm ḷng Nhân của một bác sĩ tận tâm. Đại Tá Trí chỉ suy nghĩ một vài giây, rồi nói ngay: “Lệnh không được mặc thường phục ngồi trên quân xa, áp dụng cho mọi binh chủng, ngoại trừ Quân Y.”

 

Được một lệnh như vậy, không phải dễ ǵ đối với một vị tư lệnh. Đây cũng không phải một đắc thắng có liên quan đến cảm t́nh cá nhân. Đồng thời cũng không phải là một cách để vênh vang khoe với những bạn đồng ngũ là quân y hơn các anh em binh chủng khác. Tất cả những điều này phát ra từ ḷng Nhân của Bác sĩ Minh.

Với cách tŕnh bầy của kẻ Trí, Bác sĩ Minh đă khiến vị tư lệnh cho một lệnh thích hợp có lợi cho thương bệnh binh.

 

Khi 17, 18 tuổi, tôi có đến nhà một kiến trúc sư ở đường Hồng Thập Tự Sàig̣n.

 

Tôi gơ cửa. Chính ông ta ra mở. Tôi xưng tên họ rồi nói:  “Sở dĩ tôi mạo muội đến đây v́ muốn hỏi ông vài điều về tử vi. Tôi đă mua bộ sách ông vừa xuất bản viết về môn bói toán này. Tôi đă đọc. Nhưng có một chỗ khúc mắc nên xin diện kiến ông để thỉnh ư.”

 

Ông mời tôi vào trong nhà. Ngồi trong nhà ông này có thể nh́n qua bên kia đường thấy hàng rào Dinh Độc Lập.

 

Tôi mở bộ sách của ông ra rồi xin ông giải thích cho một vài điều. Ông Kiến Trúc Sư vui vẻ, giải đáp tận t́nh.

 

Sau đó có một thời gian tôi nghiên cứu kỹ, và áp dụng môn tử vi vào đời sống.

 

Lá số tử vi gồm 12 ô vuông, gọi là cung, xếp liên tục xung quanh đường chu vi của tờ giấy. Mười hai cung đó là: mệnh, huynh, thê, tử, tài, tật, di, nô, quan, điền, phúc, phụ. Số sao trong khoa Tử Vi gồm 14 chính tinh (sao chính) 80 bàng tinh (sao phụ). Trong cả hai nhóm này, có phúc tinh nôm na gọi là những sao tốt hung tinh tức sao xấu.  Tuy nhiên có sách lại liệt thêm một ít sao nữa.

 

Mỗi người đều có đầy đủ số lượng sao kể trên, kể cả tốt lẫn xấu.

 

Chúng ta hăy tưởng tượng ra cảnh dưới đây, th́ sẽ hiểu nguyên lư của môn Tử Vi.

 

Ông Trời ngồi trước bàn. Trên mặt bàn một tờ giấy trắng, có tên một người. Mười hai ô vuông, gọi cung, đă kẻ sẵn, xếp liền nhau liên tục theo chu vi của tờ giấy.

Ông Trời cầm trọn nắm sao trong tay. Rồi tùy hứng, không chọn lựa ǵ trước, mở nắm tay ra, thả hết xuống.

 

Đám sao sẽ tùy nghi, chẳng theo một thứ tự nào hết, muốn lăn tới ô nào th́ lăn, muốn ngừng lúc nào th́ ngừng.

 

Khi tất cả đă yên vị, số mệnh của kẻ có tên trên tờ giấy đă an bài. Nếu một hai, cung có nhiều sao tốt quá th́ những cung c̣n lại tất nhiên phải lănh những sao xấu. Rủi có một cung nào gặp toàn sao xấu tụ lại, th́ phần tương ứng với cung ấy của đời người đó sẽ thê thảm.

 

Trở lại chuyện bác sĩ Bạch Đinh Minh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Năm 1945 Ông Minh đang học năm thứ nhất y-khoa tại Đại Học Hà Nội. Tới hồi tháng 12 -1946 chiến tranh bùng nổ ra giữa Pháp Việt Minh. Các trường phải đóng cửa. Kể cả Đại Học. Ông Minh về Nghệ An nơi quê hương bản quán của gia đ́nh.

 

Việt Minh đă kiểm soát được toàn bộ vùng này. Ông Minh về được ít lâu th́ chúng bắt giữ thân phụ Ông, người đang giầu có nhất vùng thời đó. Chúng chưa giết ngay.

Suốt 7 năm sống tại đây, ông Minh thấy rơ bộ mặt thật của cộng sản. Ông biết không thể sống được với chúng và t́m mọi cách để trốn đi.

 

Măi đến năm 1952 ông mới may mắn chạy thoát lên  được Hà nội đúng vào ngày đám cưới của em gái. Vợ con phải đi những chuyến khác, vào những lúc khác nhau. Nhưng cuối cùng cũng tới được cả.

 

Thân mẫu ông Minh cũng ra được khỏi vùng Việt Minh. Riêng thân phụ ông vẫn c̣n bị giữ trong trại tập trung ở Nghệ  An. Ông Minh đi học Y khoa tiếp. Các bạn cùng lớp thuở trước đă tốt nghiệp Y Khoa Bác sĩ hết cả rồi. Hai năm sau, hiệp định Genève được kư kết vào ngày 20-7-1954, chia đôi đất nước. Mỗi người, mỗi gia đ́nh suy nghĩ và tự quyết định. Biết rằng ḿnh không thể ở lại được với cộng sản, nhưng đi, th́ phải bỏ bố lại. Có nên đi hay không?

 

Ông Minh tiến thoái lưỡng nan. Ông đang ngụ tại đền Lư Triều Quốc Sư ở Hà nội. Ông thắp hương khấn vái để xin ư kiến, có nên đi hay không. Ông lắc ống Xâm, xin một quẻ. Quẻ ra như sau:

 

Phen này ắt hẳn người sang đón

Chớ ngại đường trường, sự hiểm nguy

B́nh an phú quư mưu cầu được

Mây có thang lên, nước có cầu.


 

Đưa mắt đọc, ông tin gia đ́nh ông sẽ thoát môt cách b́nh an. Nhưng đến hai chữ Phú quư, ông ngừng lại. Ông biết rất rơ, tiền bạc ngập trời ruộng nương thẳng cánh bay của ông Bố đă đưa đến tai họa cho chính Bố ḿnh.

 

Ông vái cám ơn thần linh. Xin phù hộ cho được b́nh an trong chuyến đi. Ông c̣n hứa sau này ra bác sĩ, chỉ chuyên tâm lo cho bệnh nhân mà thôi, không nghĩ đến phú qúy.

 

Ông hứa với thần linh, và ông cũng tự hứa với ḿnh như thế.

 

lẽ ông Minh đă nghiên cứu lẽ huyền vi của Tạo Hoá. Bao nhiêu sao tốt đă vào hết hai cung Tài Bạch và Điền Sản của bố ḿnh rồi, c̣n lại toàn sao xấu dồn cả vào cung Mệnh, cho nên mới gặp tai họa lớn.

 

Và chắc nhà c̣n Phúc nên chính ḿnh và vợ con chưa, hay không bị lọt vào trong t́nh trạng thê thảm hoặc nguy đến tính mệnh như Bố. Cách suy nghĩ này của kẻ Trí đă hướng dẫn cách sống và mọi hoạt động của ông sau này.

 

Quả thật ông và gia đ́nh vào được trong Nam b́nh an. Năm 1958, ông tốt nghiệp Y khoa bác sĩ.

Mảnh h́nh chữ Tín

 

Thuở c̣n ở tiểu học, tôi đọc được câu chuyện dưới đây trong Cổ học tinh hoa,rất lấy làm thích:

 

Treo kiếm trên mộ Quí Trát sang sứ nước Tấn có đeo thành bảo kiếm qua chơi với vua nước Từ.


 

Vua nước Từ ngắm thanh kiếm, ra dáng thích, muốn xin mà không nói ra.

Quí Trát v́ c̣n phải đi sứ thượng quốc, tuy chưa dâng vua Từ được thanh kiếm ấy, nhưng trong tâm đă định cho.

Khi sang sứ Tấn xong, về qua Từ, th́ vua Từ không may đă mất, đành tháo thanh kiếm đưa cho tự-quân. Các người theo hầu ngăn lại, nói:“ Thanh kiếm ấy là của báu của nước Ngô, không phải là thứ để tặng được.

Quí Trát nói: “Không phải ta tặng. Độ trước ta lại đây, vua Từ xem kiếm của ta, tuy chẳng nói ra, mà như dáng muốn lấy. Ta v́ c̣n phải đi sứ thượng quốc chưa dâng được. Tuy vậy đă định cho. Nay vua Từ chết mà ta chẳng hiến thanh kiếm, th́ ta tự dối tâm ta. Tiếc kiếm dối tâm, người liêm không chịu làm.

Nói xong bèn tháo thanh kiếm đưa cho tự- quân.

Tự-quân nói: “Tiên- quân tôi không có dặn lại việc ấy, tôi không dám nhận kiếm. ”

Quí Trát bèn treo thanh kiếm vào cái cây ở mộ vua Từ rồi đi.

Người nước Từ ai cũng khen Quí Trát rằng không quên người thân-cố, đem thanh gươm báu treo vào cây bên mộ.

 

Tân-tự

 

Một người đă nói ra điều ǵ mà giữ được, thật đáng trọng. Có đức tính này sẽ gây được ḷng tin của thiên hạ. Đó giữ chữ tín vói người đời. Việc này khó. Thế nhưng, có những điều ḿnh tự hứa, mà giữ được mới thật là khó nhất. Đó giữ chữ tín đối với chính ḿnh. Khó nhất sao? Điều ǵ trong đầu của ḿnh, tự ḿnh ḿnh biết, tự ḿnh ḿnh hay. Có thay đổi cũng chẳng ai biết đâu ḍ. Có tráo trở ngược lại cũng không một ai đoán được. V́ sự dễ dàng này nên không ai cảm thấy bị ràng buộc, thay đổi tùy thích. Quí Trát giữ được chữ tín đối với chính ḿnh.

 

Bác Bạch Đ́nh Minh ra trường. Ông giữ chữ Tín cho chính ḿnh. Ông rất nhớ điều đă tự hứa. Ông chỉ chuyên tâm lo chữa trị, giúp đỡ bệnh nhân. Ông không hề dùng nghề nghiệp này để tích tụ tiền của. Liêm khiết tuyệt đối, dù Ông đă giữ chức Chủ Tịch Hội Đồng Miễn Dịch nhiều năm tại Quân Y Viện Nguyễn Huệ Quân Khu II và Tổng Y Viện Cộnh Ḥa, Quân Khu III.

 

Xin mời xem Bác sĩ Nam Minh Bách kể về Bác sĩ Bạch Đ́nh Minh:

 

…Bạn tôi có kinh nghiệm bản thân. Xuất thân trong nhung lụa, gia đ́nh đại điền chủ kiêm đại bản, anh không xa lạ ǵ đời sống giầu sang phú quư. Trong anh em miền Bắc không ai có ông bố giầu có như anh. Ngoài sở hữu chủ mấy trăm mẫu ruộng, ông người xuất nhập cảng đầu tiên cùng Denis Frères hay Descours Cabaud. Nghe nói ông có cả tiền triệu hiện nay vẫn c̣n nằm tại ngân hàng ngoại quốc. Cậu cả, anh bạn tôi học trường tỉnh nhưng khi hội tuyển Hồng Kông Nam Hoa đấu sân Mangin với Ancre sportive hay Olympic Haiphongais là có xe đón lên Hà Nội xem xong đưa về.

Năm 1944 không biết quen nhau từ trước hay gia đ́nh sắp đặt, chàng kết duyên với một thiếu nữ vừa trẻ đẹp vừa nhu ḿ, nhưng không ai biết sau này sẽ can đảm phi thường với sức mạnh tinh thần không thua ǵ chàng trai xứ Nghệ. Gia đ́nh nàng c̣n giầu có, bề thế hơn, cơ sở kinh doanh Hà Nội Hải Pḥng cạnh tranh với doanh thương Pháp.

 


Sinh viên Y Khoa Bạch Đ́nh Minh cùng vợ hai con, chụp h́nh với song thân và cô em gái (mé trái h́nh).


 

 

Sau này hai anh chị cho là quá giầu có đưa tới đại họa và chọn thanh bạch làm lối sống.

 

Năm 50 cải cách xuống đất. Bố anh bạn ở Nghệ an lănh khổ sai dài hạn.

Gia đ́nh may mắn thay chạy thoát ra Hà Nội.

 

…Những ngày kinh hoàng tại Nghệ an c̣n thêm một bài học nữa. Giầu sang phú quư, nhất là giầu sang quá sức như ông bố, mang lại những nguy hiểm không lường. Luật nhân quả, luật trừ, quy luật trời đất không ai tránh khỏi. Quy luật không nhân nhượng, không thương tiếc, áp dụng ngay trước mắt không cần tới thế hệ sau.

Anh bạn quyết định không bao giờ giầu sang phú quư nữa. Ông bố bao nhiêu tiền ngoại quốc cũng chỉ một ngày là tan như mây khói. Giấc mộng Nam Kha. Và anh sẽ trở thành bác duy nhất không có pḥng mạch, không xe hơi, đi xe đạp cả tại Việt Nam lẫn Hoa Kỳ. Anh muốn gạt bỏ giầu sang phú quư, chỉ cần phúc đức.

Anh giữ đúng lời hứa thanh bạch và lương tâm nổi tiếng từ Pleiku, Tổng Y viện Duy Tân Đà Nẵng, Nha Trang Tổng y viện Cộng Ḥa. Lính đồn canh Tổng y viện biết xách giỏ leo lên xe lam, đi chợ cùng đám người làm, là bà bác sĩ, quần áo giản dị nhưng rất quư phái, ai cũng biết. Nhưng họ không biết trước kia gia đ́nh nhập cảng cả những xe hơi Âu Mỹ đẹp nhất Bắc Hà.


 

…Anh bạn tôi sức mạnh phi thường nhờ mẹ vợ. Không ai có thể cho vợ con sống thanh bạch nếu bà mẹ bà vợ không đồng ư. Thiếu ǵ người muốn thành đức Khổng nhưng chỉ Khổng trong lời nói chứ không trong việc làm. V́ nội tướng không cho phép. Có lẽ quang cảnh ông bố ra ṭa án nhân dân Nghệ An cũng luôn luôn trong ức nên hai bà trở nên Phật Lăo hơn anh bạn tôi nữa. Các quyết tâm t́m phúc đức chứ không t́m phú quư. Và các bà đă thành công.

 

Bác sĩ Nam Minh Bách

 

 

Bác sĩ Bạch đ́nh Minh và gia đ́nh được cấp một chỗ để ở, trong khuôn viên Tổng y viện Cộng Ḥa. Khi đó ông là chỉ huy phó.

 

Một lần phu-nhân Bác-sĩ Minh đi chợ về. Xe lam đậu trước cổng. Bà bác vừa khiêng những giỏ thực phẩm bước xuống xe th́ một chiếc guốc bị đứt quai. Bà trượt chân. Guốc văng ra xa. Bà cúi nhặt. Tay cầm 2 chiếc guốc, cùng lúc vừa xách, vừa vác mấy cái bị đựng thực phẩm, đi chân đất bước vào cổng. Mấy người lính gác cổng, thấy thế chạy lại, muốn xách dùm mấy cái bị. Bà đưa tay ngăn lại nói: “Các anh có ḷng tốt muốn giúp, tôi xin cám ơn. nhưng tôi không dám nhận. Cứ để tôi tự xách những thứ này.”

 

Mấy người lính nói: “Bà cứ để tụi tôi xách dùm, có sao đâu.”

 

Phu nhân Bác Minh đáp: “Đừng, đừng! Nếu không, tôi sẽ cảm thấy áy náy cùng.”

 

Với những lời nói này, Bà đă để lộ  phật tánh cũng như tinh thần tôn trọng nhân-vị của anh em binh dưới quyền. Cung cách này khác hẳn thái độ của một số bà có chồng làm chưa lớn lắm, nhưng cứ mở miệng ra là lên giọng sai bảo những người phụ tá dưới quyền chồng hay hạch sách các binh ở cấp thấp hơn nữa.

 

Người ta thường nói: “thế gian được vợ, hỏng chồng. Khó được như Rồng, đẹp cả một đôi.”

Khó, nhưng chúng ta đă thấy. Hai vợ chồng bác Bạch Đ́nh Minh thật đẹp cả một đôi. Cả hai đều Phật tâm, Phật tánh.

 

Mảnh h́nh Gạt bỏ phú quư

 

Xin được nói thêm một chút về nhân vật đă treo kiếm trên mộ, kể ở trên. Quí Trát nguyên là em ruột của vua Ngô thời đó. Người anh làm vua được bốn năm muốn nhường ngôi lại cho em. Quí Trát từ chối, trả lời: “Ta coi sự phú quư khác nào như gió thu thoảng qua mà thôi. Ta chẳng thiết ǵ nhận.”

 

Đầu thập niên 70, phu nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thiết lập bệnh viện V́ Dân tại ngă tư Bẩy Hiền. Bệnh viện này được trang bị tất cả những dụng cụ y khoa tối tân nhất của Âu Mỹ vào thời bây giờ. Khi bệnh viện sắp hoàn thành, bác sĩ Bạch Đ́nh Minh người được mời giữ chức giám đốc. Bác Minh đă hỏi lại, bệnh viện này chữa cho tất cả mọi tầng lớp dân chúng hăy dành riêng cho một loại người nào? Câu trả lời là, bất cứ ai đủ phương tiện tài chính đều có thể được vào khám bệnh chữa trị tại đây. C̣n những người không có tiền bạc, th́ hăy tới những bệnh viện công lập, có rất nhiều trong thành phố.


 

Bác sĩ Minh liền trả lời: “Được làm giám đốc một bệnh viện tối tân nhất là một điều hân hạnh cho tôi. Nhưng giữ chức này mà phải từ chối, không nhận những người nghèo, th́ thực ḷng tôi không nỡ.

 

Tôi xin không dám nhận. Chức vụ này nên dành cho một người khác.”

 

Yếu tố nào đă khiến hai vợ chồng bác sĩ Minh có cùng một tần số trong cách suy nghĩ và sinh hoạt?

 

Xin thưa:

 

1-   Cả hai gia đ́nh đều là danh gia vọng tộc. Họ Bạch ở vùng Nghệ An. Họ Lê tại Hà Nội.

 

Ông Tổ họ Bạch , tên là Bạch Liêu đă đậu Trạng Nguyên, năm 1266.

Ai đă đến thăm Văn Miếu ở Hà Nội đều có thể thấy tấm bia liệt kê tên 46 vị Trạng Nguyên của nước ta.

Trạng nguyên Bạch Liêu là vị thứ 6, trước Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi là vị thứ 8. Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm là vị thứ 32.

Nhạc phụ của Bác sĩ Minh Cụ Lê Đ́nh Gioăn, uyên thâm Hán học. Cụ một nhà văn , một nhà thơ , bút hiệu Nhất Anh, thường có bài đăng trên Văn Hóa Ngày Nay.

 

Lầu Hoàng Hạc

 Người xưa cưỡi hạc vàng đi măi

Hoàng Hạc lầu nay vắng bóng người

Một vẫy hạc vàng thăm thẳm biệt

Ngàn năm mây trắng lững lờ trôi

Hán-Dương ḍng lặng cây mơ bóng

Anh vũ bờ thơm co rợn trời.

Này bóng chiều buông đâu cố quận?

Sông đùn khói sóng, năo ḷng ai!


 

 

Nhất Anh dịch


 

 

2-Một yếu tố nữa cả hai gia đ́nh đều rất giầu có. Khi Việt Minh lên, thân phụ Bác Minh bị đại họa. Nhạc phụ bác


 

Minh, vốn chủ hăng xe hơi Aviat Citroen, may thoát được, không bị giết, cũng không bị bắt làm tù khổ sai. Vào đến trong Nam đương nhiên nhạc phụ bác Minh cũng đă mất hết 99 % của cải. Từ đó Cụ chỉ vui sống trong cảnh thiên nhiên ở Đà Lạt, viết văn, làm thơ.

 

Bác sĩ Minh cũng như phu nhân đă trải qua tất cả mọi điều đều giống nhau. Do đó dễ tâm đầu ư hiệp, tâm ư tương thông. Cả hai cùng không lao vào ṿng danh, lợi nữa, chỉ coi phúc đức là mục đích tối hậu.

Có lần, khi Thủ tướng Trần Văn Hương thành lập nội các ông đă mời Bác sĩ Bạch Đ́nh Minh giữ một chức tổng trưởng. Bác sĩ Minh đă quyết định gạt bỏ phú quư. Ông từ chối. Nhưng khi tŕnh bầy, ông chỉ nói rằng, ông không muốn làm chính trị, chỉ muốn làm việc chuyên môn.

Quí Trát thời Đông Chu Bác Minh thời Việt Nam Cộng Ḥa, hai người sống cách nhau cả mấy ngàn năm, nhưng phong cách giống nhau. Thật đáng phục.

 

Trên đây chúng ta đă xem những bức h́nh do những người thuộc phái nam ghi lại.

 

Để cho bức tranh được toàn mỹ tôi xin phép dùng một mảnh h́nh vài cảnh phác họa lại bởi một người tên Phan Cẩm Anh. Người này vốn rất thân với gia đ́nh Phó Tổng Thống Trần Văn Hương được cụ coi như một cháu gái trong nhà. Phu quân của Bà là bác Nguyễn Đức Thụ ,Y khoa Đại học Sài g̣n 1974, là người chăm sóc sức khoẻ cho Cụ sau khi mất nước.

 

Xin mời xem:

Những lần thăm bệnh sau của nhà tôi, cụ Hương tâm sự nhiều hơn về những vui buồn trong cuộc đời tham chánh của Cụ. Cụ cũng luôn nhắc đến những người mà cụ đặc biệt quư mến như bác Bạch Đinh Minh. Cụ hỏi nhà tôi:

_ “Con biết bác Bạch Đ́nh Minh không?”. Nhà tôi thưa “có” và giải thích:

_ “Con học chung một lớp với con trai của bác sĩ Minh. Cụ Hương ngậm ngùi kể lại:

_ “Bác sĩ Minh một người rất thanh bạch mà chú rất đặc biệt quí trọng. Hồi trước có lần chú tặng bác sĩ Minh một chiếc đồng hồ đeo tay để bác sĩ Minh dùng đi khám bệnh. Bác Minh chỉ đeo có một tuần rồi đem trả lại chú, không chịu nhận nữa. Chú thấy bác Minh phục vụ trong quân đội hết ḷng tận tụy giầu tinh thần trách nhiệm với chức vụ nên chú đă đề nghị lên Tổng thống Thiệu tưởng thưởng “Bảo Quốc Huân Chương” cho bác Minh. Bác sĩ Minh từ chối không nhận, viện cớ rằng ông đă được làm việc ở chỗ an toàn, xin dành huy chương ấy cho những người đă xả thân chiến đấu ,hy sinh xương máu của ḿnh cho đất nước. Chú cố thuyết phục để bác Minh nhận nên kể cho bác Minh nghe câu chuyện này: Một lần, chú đi thanh tra một tỉnh dưới quê, đến thăm một ngôi trường làng nhỏ, hẻo lánh. Gặp một thầy giáo già đang dạy học ở đó. Sau khi hỏi chuyện chú được biết người thầy giáo này đă dậy học ở ngôi trường trên suốt mấy chục năm qua… Chú nghĩ vị thầy kia cũng đă cống hiến cả cuộc đời của ḿnh để để góp công phục vụ quốc gia đất nước, nên chú cũng đă đề nghị tưởng thưởng Bảo Quốc Huân Chương. Bác sĩ Minh cũng đă cống hiến cho đất nước ḷng phục vụ cao cả của ông. Nghe chú nói vậy bác Minh cũng khảng khái nhất định khước từ không chịu nhận huân chương này.

 

Phan Cẩm Anh Tháng giêng/1996.

 

Trở lại tấm Bảo Quốc Huân Chương.

 

Bác sĩ Minh một người tự trọng, và ông nghĩ rằng những người chiến đáng được thưởng huy chương này đă đem xương máu bảo vệ quốc gia.

Tôi cho rằng Phó Tổng Thống Trần Văn Hương lại suy tư cách khác. Cụ nghĩ rằng bác Minh một người tiêu biểu, đă giữ được nhiều đức tính của những người sống trong nước Việt Nam Cộng Ḥa. Phong thái này của bác Minh đă biến ông thành như một thứ bảo tàng viện của những đức tính của những người đáng trọng của miền Nam Tự Do. Đó cũng một cách bảo vệ quốc gia. Nói cho hơn, bảo vệ những truyền thống tốt đẹp : cung cách cao quí của những con người sống tại miền Nam Tự Do sự tận tâm của các Bác của nước Việt Nam Cộng Ḥa,

Chính v́ thế mà sau đó Phó Tổng Thống Trần Văn Hương đă gặp Bác sĩ Minh lần nữa để khẩn khoản nói:

_ “Đây không phải là trường hợp một Phó Tổng Thống ân thưởng Bảo Quốc Huân Chương cho một người. Xin coi đây như món quà riêng của già Hương này tặng Bác sĩ. Bác nhận dùm đi. ”


 

Một vị Phó Tổng Thống, nổi tiếng liêm khiết, thẳng thắn, đạo đức nhất của Việt Nam Cộng Ḥa mà xưng là “Già Hương này” với bác sĩ Minh tức là  đă kể bác Minh bạn chí thân.

 

Bác sĩ Minh đành nhận tấm Bảo Quốc Huân Chương. Đúng là, đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.

 

Năm 1975. Con trai lớn bác Minh là bác Bạch Thế Thức, khóa 21 quân y hiện dịch, đang phục vụ trong trại ngoại khoa tại Tổng y viện Duy Tân, Đà Nẵng.

 

Bác sĩ Bạch Thế Thức đă trở thành một bác sĩ giải phẫu v́ lư do sau đây: Tết Mậu Thân 1968, Việt Cộng đánh 44 tỉnh cùng một lúc. Chúng đă chiếm được nhiều nơi trong thành phố Sàig̣n. Các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đang cố gắng đánh bật chúng ra. Nhiều chiến sĩ hy sinh. Xe hồng thập tự ùn ùn chở thương binh tới Tổng Y viện Cộng Ḥa. Các bác sĩ và y tá khẩn cấp làm việc không kịp thở.

 

Anh Thức thấy rất nhiều thương binh, lẫn tử sĩ, chật ních bên trong pḥng cấp cứu cả bên ngoài nữa, trong số đó có một chiến thủy quân lục chiến bị thương nặng, đang quằn quại nằm, chờ được cứu chữa.

 

Khi đó Anh Thức đang học APM ở Khoa học Đại Học, nhưng trù trừ chưa biết rồi sẽ học ngành nào. Đứng trước cảnh này, anh Thức lập tức quyết định: “Ḿnh phải học Bác sĩ, phải trở thành một bác giải phẫu, để sau này có thể cứu giúp được người, trong những hoàn cảnh thập tử nhất sinh như thế này.”

 

Tháng ba 1975, Đà Nẵng mất. Bác sĩ Thức chạy vào được Sài G̣n. Vào những ngày cuối tháng tư, dân số thủ đô khoảng 2.000.000 người. Ai cũng mong thoát. Nhưng với dân số đông như vậy, hy vọng thoát được cho mỗi người một phần triệu. Thoát cách nào cũng được, đường bộ, đường thủy, phi cơ. Ngày 29-4, trong t́nh trạng tuyệt vọng chẳng làm sao t́m ra được phương tiện để chạy, bác sĩ Thức chán quá, nằm ngủ trong căn nhà ở Khánh Hội. Anh Thức tuy ở quân y nhưng lúc nào cũng thích không quân. Anh nghiên cứu đủ loại máy bay. Anh tài lạ, ngồi trong nhà hay làm trong bệnh viện, chỉ cần nghe tiếng máy bay xa xa, trên trời, là anh đă biết ngay đó chiếc máy bay ǵ.

 

Trong lúc đang ngủ trưa, giữa niềm tuyệt vọng, anh chợt nghe tiếng máy bay hơi lạ trên bầu trời Khánh Hội. Anh hiếu kỳ, vùng dậy, chạy ra ngoài đường ngó lên trời. Xong, anh cúi đầu nh́n lại xuống đất. Anh thấy mọi người rùng rùng chạy. Anh chợt nghĩ, tại sao ḿnh không tiếp tục đi t́m đường chạy, mà lại nằm ngủ một cách như thế này? Anh lấy chiếc xe gắn máy Honda chạy đi thám sát bến Bạch Đằng. Rồi lại chạy về.

 

Anh dắt mẹ vợ bác Nguyễn Thúy San, vốn học cùng lớp, đứa con đầu ḷng mới 4 tháng, cộng thêm 5 đứa em, tất cả là 9 người chạy trở lại bến Bạch Đằng. Trời xui đất khiến, mới tới Thương khẩu ở Khánh Hội, chợt thấy một xà lan Mỹ không biết từ đâu chạy tới, tắp vào bờ. Anh kéo cả gia đ́nh bước xuống. Gia đ́nh Anh là một trong những người đầu tiên đặt chân lên sàn xà lan này. Thẳng ra biển.

 

Ngày 30-4-1975. bác Minh đang bệnh viện Nguyễn Văn Học. Ông đang đâm kim vào rút nước tủy sống để chữa cho một bệnh nhân. Hoàn tất việc này, ông vừa buông mũi kim xuống xong th́ Việt Cộng tràn vào cửa trước bệnh viện. Ông chạy thẳng ra cửa sau. Một người quen, cùng quê Nghệ An, kéo ông chạy xuống Rạch Giá. Từ đó, may mà kiếm được thuyền, chạy thoát.


 

Trở lại quẻ xâm Bác Minh đă thành tâm khấn vái tại đền Lư Triều quốc sư mà xin được:

 

Phen này ắt hẳn người sang đón

Chớ ngại đường trường, sự hiểm nguy

B́nh an phú quư mưu cầu được

Mây có thang lên, nước có cầu.

 

Quẻ đă linh nghiệm, ứng vào gia đ́nh này hai lần. Lần đầu vào năm 1954. Lần thứ nh́,1975.

 

Tới đất Mỹ Bác Thức và vợ Bác Thúy San tiếp tục được nghề sớm. Bác Minh cũng lấy lại được bằng hành nghề sau đó. Về sau, hai người con trai của bác Thức cũng tốt nghiệp bác trên đất Mỹ.

 

Tứ đại đồng đường, trong đó ba thế hệ liền nhau cùng hành nghề cứu nhân độ thế. Hai đứa chắt đích tôn sinh đôi của Bác sĩ Minh, c̣n nhỏ, chưa tham dự công việc này được. Suốt đời bác sĩ Minh và phu nhân chỉ nghĩ đến việc làm phúc.

Phúc quả nhiên đă đến.

 

Từ lúc 10 tuổi tôi đă thích nhiếp ảnh.

Bây giờ, tôi biết ḿnh vừa chụp xong được một bức Chân Dung.

Chân Dung Bác sĩ Bạch Đ́nh Minh.

 

Trần Xuân Dũng.